Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011

Bài đã được đăng trên VietNamNet: “Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?“. Tít do phóng viên của VietNamNet giật. Số 9000 là bao gồm cả giáo sư và phó giáo sư; tuy nhiên, gọi chung “9000 giáo sư” cũng ok. Thông thường các nước người ta dùng danh xưng professor (giáo sư) cho cả ba hạng professor: assistant professor, associate professor, full professor.

Bài liên quan:

  1. Việt Nam không cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ?
  2. Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam
  3. Việt Nam có bao nhiều bằng sáng chế?

Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011

 

TS. Lê Văn Út – TS. Thái Lâm Toàn

 

Một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế. Số bằng sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế thì thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao và thu được nhiều lợi nhuận.

Bằng sáng chế là hình thức sở hữu trí tuệ. Nó bao gồm một tập hợp các quyền độc quyền được cấp bởi một nhà nước có chủ quyền cho một nhà phát minh, hoặc nhận chuyển nhượng của họ trong một khoảng thời gian giới hạn để đổi lấy việc công bố công khai một kết quả sáng chế. Trong bài viết này, người viết chỉ đề cập bằng sáng chế Mỹ (US patent) bởi uy tín của nó.

Để bảo đảm tính “khách quan”, người viết không thống kê số bằng sáng chế Mỹ của chính nước Mỹ. Bài viết chỉ đề cập số bằng sáng chế Mỹ trong năm 2011, và được trích lục từ Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO). Dữ liệu về dân số và thu nhập được lấy từ BBC.

Theo thống kê, Nhật Bản là nước đứng đầu với 46139 bằng sáng chế, kế đến là Hàn Quốc với 12262 bằng sáng chế. Điều đáng lưu ý là Trung Quốc được xếp thứ 8 với 3174 bằng sáng chế; trong năm 2010, Trung Quốc cũng được xếp thứ 8 với 2657 bằng sáng chế.

Nhóm 10 nước dẫn đầu (trừ Mỹ):

Hạng

Nước

Dân số (triệu)

Số bằng sáng chế 2011

1

Nhật Bản

126.9

46139

2

Hàn Quốc

48.9

12262

3

Đức

82.1

11920

4

Đài Loan

23

8781

5

Canada

34.3

5012

6

Pháp

62.6

4531

7

Vương Quốc Anh

62.4

4307

8

Trung Quốc

1350

3174

9

Israel

7.3

1981

10

Úc

21.5

1919

(Trung Quốc: không tính Hồng Kông và Ma Cao)

Trong khu vực Đông Nam Á, đất nước nhỏ bé Singapore với 4.8 triệu dân có 647 bằng sáng chế (một đất nước xa xôi ở Bắc Âu với dân số tương đương, Phần Lan với 5.3 triệu dân cũng có 951 bằng sáng chế). Đứng thứ hai là Malaysia với 161 bằng sáng chế. Trong khi đó, Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹtrong năm 2011.

Nhóm vài nước Đông Nam Á:

Hạng

Nước

Dân số (triệu)

Số bằng sáng chế 2011

1

Singapore

4.8

647

2

Malaysia

27.9

161

3

Thái Lan

68.1

53

4

Philippines

93.6

27

5

Indonesia

232

7

6

Brunei

0.407

1

7

Việt Nam

89

0

Trong bối cảnh Việt Nam phải hội nhập với thế giới bên ngoài về mọi mặt, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, kết quả thống kê trên thật sự đáng ngại cho khoa học Việt Nam. Chia sẽ vấn đề này, PGS. Phạm Đức Chính(Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết: “Nghiên cứu cơ bản của Việt Nam chúng ta so sánh trong khu vực, trên cơ sở thống kê công bố quốc tế ISI, thua kém khá xa so với Singapore, Malaysia, và Thái Lan. Nhưng về mặt công nghệ, ứng dụng thì tình hình còn tệ hơn, như theo một chỉ số quan trọng mà thống kê này cho thấy. Nếu như cứ cho rằng tiềm năng thực của chúng ta không tệ tới mức như vậy, thì năng lực hội nhập của chúng ta lại còn yếu hơn nữa. Mà yếu tố sống còn và đi lên của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh mọi mặt hiện nay, là chúng ta phải hội nhập được với thế giới.”

Tuy nhiên, một thực tếlà vấn đề tác quyền ở Việt Nam chưa được xem trọng một cách đúng mức. GS. Nguyễn Đăng Hưng(nguyên Trưởng khoa Cơ học phá hủy, Đại học Liège, Bỉ) chia sẽ:”Tôi không ngạc nhiên về những con số thống kê mà các tác giả đã có công tra cứu tham khảo. Bằng sáng chế là thước đo đẳng cấp công nghệ kỹ thuật của một nước. Việt Nam kém cỏi về công bố quốc tế về khoa học. Nhưng tụt hậu về khâu công nghệ kỹ thuật, không có bằng sáng chế đăng ký thì quả là trầm trọng hơn. Than ôi nó là con số không to tướng sau 37 năm hòa bình phát triển kinh tế (số không trong năm 2011 – NV). Nhưng thử hỏi làm sao có được? Tại Việt Nam tôi chưa thấy một chính sách cụ thể nào nhằm khuyến khích người dân sáng chế hay phát triển sử dụng những sáng chế nếu có! Kinh tế chỉ phần lớn chung quanh khai thác dầu thô, nông sản, gia công cho các công ty nước ngoài. Quả đấm thép tập trung vốn nhà nước lên đến hàng tỷ đô la như VINASHIN cũng chỉ đại bộ phận là mua tàu cũ, đóng ráp tàu theo thiết kế nước ngoài…

Tôi đã từng được các nhà sáng chế Việt Nam tiếp xúc và nhờ tôi hỗ trợ để hoặc khoa học hóa sáng chế hay tìm giúp cho có nhà tài trợ quốc tế bỏ vốn sử dụng sáng chế. Họ tìm đến tôi vì hằng chục năm họ không có được hỗ trợ nào về phía nhà nước. Thí dụ điển hình nhất là nhà sáng chế mãng bê tông chống sạt lở của TS. Phan Đức Tác. Kỹ thuật gia này đề xuất một hướng giải quyết rất hữu hiệu trong việc chống xâm thực bờ biển bờ sông. Hàng chục năm trời ông ta chỉ dựa vào sức mình với sự hỗ trợ của người vợ hiền xây dựng mô hình thí nghiệm ngay tại nhà. Nhờ lòng kiên nhẫn và niềm đam mê bền bĩ, ông ta đã đem ra sử dụng sáng chế này ở vài nơi (Hải Phòng, Mủi Né, Long Xuyên…). Kết quả thật là thuyết phục. Sau những cơn bão lớn những kè khác bị phá hủy, hư hại nhưng kè dùng các mãng “Cục Tác” vẫn bền vững qua năm tháng. Thế mà cho đến hôm nay, sáng chế của TS Tác vẫn chưa được các sở bộ chuyên ngành nhà nước chính thức thẩm định và sử dụng với thù lao thỏa đáng cho nhà sáng chế… Sáng chế thiết thực và hữu ích cho đất nước như thế mà vẫn coi như con ghẻ thì làm sao có thể phát triển nhân rộng các bằng sáng chế?”

Đã đến lúc các nhà quản lí khoa học ở Việt Nam phải nhìn nhận lại thực tế yếu kém của khoa học Việt Nam, đặc biệt là các khoa học ứng dụng. So với các nước trong khu vực thì Việt Nam có số lượng tiến sĩ rất lớn, nhưng thành tựu khoa học của Việt Nam, cụ thể là số bằng sang chế đăng ký ở Mỹ, quá yếu kém như thế thì quả là một thực tế khó chấp nhận. Đã đến lúc, Nhà nước và các nhà khoa học phải có một nhận thức chung về nguyên nhân và cách khắc phục sự yếu kém trên. Là người có nhiều nghiên cứu về khoa học Việt Nam nên GS. Nguyễn Văn Tuấn(Viện nghiên cứu Y khoa Garvan và ĐH New South Wales) đã lên tiếng: “Tôi không ngạc nhiên với số bằng sáng chế của Việt Nam được đăng kí ở Mĩ. Trong một bài trước đây, tôi trích dữ liệu từ báo cáo của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế. Có năm (như 2002) không có bằng sáng chế nào được đăng kí. Do đó, năm 2011 không có bằng sáng chế từ Việt Nam được đăng kí cũng có thể xem là chuyện … bình thường.

Nhưng một điều không bình thường là với một đội ngũ trên 9000 giáo sư và phó giáo sư, và hàng trăm ngàn tiến sĩ và thạc sĩ mà không có bằng sáng chế đăng kí.  Càng không bình thường khi chúng ta so sánh với Thái Lan (có ít giáo sư và tiến sĩ hơn ta) khi trong cùng thời gian 2000-2007 đã có đến 310 bằng sáng chế. Có thể nói rằng trong các nước Đông Nam Á (ngoại trừ Lào, Kampuchea và Miến Điện) Việt Nam có số bằng sáng chế thấp nhất.

Nhưng tôi nghĩ con số bằng sáng chế không có nghĩa là khả năng sáng tạo của người Việt thấp.  Tôi nghĩ khả năng sáng tạo của người Việt không kém bất cứ ai; chỉ cần nhìn qua sự thành công của các chuyên gia gốc Việt ở nước ngoài thì biết nhận xét đó không quá đáng. Tôi nghĩ con số đó phản ảnh khả năng hội nhập khoa học và công nghệ của Việt Nam chưa cao, và thiếu tầm trong quản lí khoa học.  Trong thực tế, các nhà lãnh đạo khoa học ở Việt Nam chưa quan tâm đến vấn đề đăng kí bằng sáng chế, vì họ vẫn còn loay hoay với những thủ tục hành chính (như “nghiệm thu” chẳng hạn).  Có người còn chưa biết thủ tục để đăng kí ra sao!

Cũng cần nói thêm rằng Việt Nam chưa có một cơ chế để hỗ trợ và phụ trách đăng kí sáng chế.  Theo tôi biết, Việt Nam còn thiếu những luật sư có kinh nghiệm trong việc đăng kí bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ.  Nhà khoa học thì chắc chưa chắc có khả năng tài chính để tự đăng kí, mà dù cho có khả năng tài chính thì không có luật sư cũng khó làm được.  Trong khi đó, các đại học còn chưa quan tâm đến nghiên cứu khoa học, thì họ đâu có thì giờ quan tâm đến việc đăng kí bằng sáng chế.

Nhưng một cách khách quan mà nói, nhiều nghiên cứu khoa học (tôi chỉ nói trong lĩnh vực y khoa) thường tập trung vào những chủ đề khó có thể đăng kí bằng sáng chế.  Nghiên cứu y khoa thường chia thành 3 loại: me too, incremental knowledge, breakthrough.  Nghiên cứu me too (bắt chước) có nghĩa là những nghiên cứu bắt chước người khác ở môi trường Việt Nam, không cho ra một phương pháp hay phát hiện gì mới, chủ yếu là để học nghề.  Nghiên cứu mang tính incremental knowledge là những nghiên cứu có đóng góp vào tri thức khoa học, nhưng mức độ đóng góp tương đối khiêm tốn (như phát triển phương pháp mới, phát hiện mới, cách tiếp cận mới, v.v.).  Các công trình breakthrough hay đột phá có nghĩa là những nghiên cứu định ra một trường phái mới, định nghĩa một lĩnh vực mới.  Hầu hết những nghiên cứu từ Việt Nam là me too nên khó có thể phát triển cái gì mới để có thể đăng kí bằng sáng chế.

Những lí do trên có thể giải thích tại sao Việt Nam chúng ta có mặt rất khiêm tốn trong bản đồ sáng tạo tri thức mới và bằng sáng chế.”

==============================

TRÊN BÁO VIETNAMNET

Cập nhật 03/07/2012 10:02:20 AM (GMT+7)

Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?

– Từ năm 2006 – 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trung bình mỗi năm có 1 bằng sáng chế. Trong khi đó, năm 2011, chúng ta không có bằng sáng chế nào được đăng ký.

Không bằng sáng chế là chuyện… bình thường?!

Việt Nam không có bất cứ bằng sáng chế nào được đăng ký tại Mỹ trong năm 2011. Ảnh minh họa.

Một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế. Số bằng sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế thì thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao và thu được nhiều lợi nhuận.

Bằng sáng chế là hình thức sở hữu trí tuệ. Nó bao gồm một tập hợp các quyền độc quyền được cấp bởi một nhà nước có chủ quyền cho một nhà phát minh, hoặc nhận chuyển nhượng của họ trong một khoảng thời gian giới hạn để đổi lấy việc công bố công khai một kết quả sáng chế. Trong bài viết này, người viết chỉ đề cập bằng sáng chế Mỹ (US patent) bởi uy tín của nó.

Để bảo đảm tính “khách quan”, người viết không thống kê số bằng sáng chế Mỹ của chính nước Mỹ. Bài viết chỉ đề cập số bằng sáng chế Mỹ trong năm 2011, và được trích lục từ Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO). Dữ liệu về dân số và thu nhập được lấy từ BBC.

Theo thống kê, Nhật Bản là nước đứng đầu với 46139 bằng sáng chế, kế đến là Hàn Quốc với 12262 bằng sáng chế. Điều đáng lưu ý là Trung Quốc được xếp thứ 8 với 3174 bằng sáng chế; trong năm 2010, Trung Quốc cũng được xếp thứ 8 với 2657 bằng sáng chế.

Bảng 1: Nhóm 10 nước dẫn đầu (trừ Mỹ):

Hạng  Nước Dân số (triệu)  Số bằng sáng chế 2011
 1  Nhật Bản 126.9  46139
 2  Hàn Quốc  48.9  12262
 3  Đức 82.1  11920
 4  Đài Loan 23 8781
 5  Canada  34.3  5012
 6 Pháp  62.6  4531
 7 Vương Quốc Anh 62.4 4307
 8 Trung Quốc 1,350  3174
 9 Israel 7.3  1981
 10 Úc 21.5 1919

(Trung Quốc: không tính Hồng Kông và Ma Cao)

Trong khu vực Đông Nam Á, đất nước nhỏ bé Singapore với 4.8 triệu dân có 647 bằng sáng chế (một đất nước xa xôi ở Bắc Âu với dân số tương đương, Phần Lan với 5.3 triệu dân cũng có 951 bằng sáng chế). Đứng thứ hai là Malaysia với 161 bằng sáng chế. Trong khi đó, Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011.

Bảng 2: Nhóm vài nước Đông Nam Á:

Hạng Nước Dân số (triệu) Số bằng sáng chế 2011
 1 Singapore 4.8  647
 2 Malaysia   27.9  161
 3 Thái Lan 68.1  53
 4 Philippines 93.6 27
 5 Indonesia 232   7
 6 Brunei 0.407  1
 7 Việt Nam 89  0

Trong bối cảnh Việt Nam phải hội nhập với thế giới bên ngoài về mọi mặt, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, kết quả thống kê trên thật sự đáng ngại cho khoa học Việt Nam. Chia sẽ vấn đề này, PGS. Phạm Đức Chính (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết: “Nghiên cứu cơ bản của Việt Nam chúng ta so sánh trong khu vực, trên cơ sở thống kê công bố quốc tế ISI, thua kém khá xa so với Singapore, Malaysia và Thái Lan. Về mặt công nghệ, ứng dụng thì tình hình còn tệ hơn, như theo một chỉ số quan trọng mà thống kê này cho thấy. Nếu như cứ cho rằng tiềm năng thực của chúng ta không tệ tới mức như vậy, thì năng lực hội nhập của chúng ta lại còn yếu hơn nữa. Mà yếu tố sống còn và đi lên của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh mọi mặt hiện nay, là chúng ta phải hội nhập được với thế giới.

Tuy nhiên, một thực tế là vấn đề tác quyền ở Việt Nam chưa được xem trọng một cách đúng mức. GS. Nguyễn Đăng Hưng (nguyên Trưởng khoa Cơ học phá hủy, Đại học Liège, Bỉ) chia sẻ: “Tôi không ngạc nhiên về những con số thống kê mà các tác giả đã có công tra cứu tham khảo. Bằng sáng chế là thước đo đẳng cấp công nghệ kỹ thuật của một nước. Việt Nam kém cỏi về công bố quốc tế về khoa học. Nhưng tụt hậu về khâu công nghệ kỹ thuật, không có bằng sáng chế đăng ký thì quả là trầm trọng hơn”.

Nguyên nhân vì đâu?

Đã đến lúc các nhà quản lí khoa học ở Việt Nam phải nhìn nhận lại thực tế yếu kém của khoa học Việt Nam, đặc biệt là các khoa học ứng dụng. So với các nước trong khu vực thì Việt Nam có số lượng tiến sĩ rất lớn, nhưng thành tựu khoa học của Việt Nam, cụ thể là số bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ, quá yếu kém như thế thì quả là một thực tế khó chấp nhận. Đã đến lúc, Nhà nước và các nhà khoa học phải có một nhận thức chung về nguyên nhân và cách khắc phục sự yếu kém trên.

 Là người có nhiều nghiên cứu về khoa học Việt Nam, GS. Nguyễn Văn Tuấn (Viện nghiên cứu Y khoa Garvan và ĐH New South Wales) đã chỉ ra một số lý do mà theo quan điểm của cá nhân ông là nguyên nhân dẫn tới tình trạng này:

“Tôi không ngạc nhiên với số bằng sáng chế của Việt Nam được đăng kí ở Mĩ. Trong một bài trước đây, tôi trích dữ liệu từ báo cáo của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000 – 2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế. Có năm (như 2002) không có bằng sáng chế nào được đăng kí. Do đó, năm 2011 không có bằng sáng chế từ Việt Nam được đăng kí cũng có thể xem là chuyện… bình thường.

Nhưng một điều không bình thường là với một đội ngũ trên 9.000 giáo sư và phó giáo sư, và hàng trăm ngàn tiến sĩ và thạc sĩ mà không có bằng sáng chế đăng kí. Càng không bình thường khi chúng ta so sánh với Thái Lan (có ít giáo sư và tiến sĩ hơn ta) khi trong cùng thời gian 2000-2007 đã có đến 310 bằng sáng chế. Có thể nói rằng trong các nước Đông Nam Á (ngoại trừ Lào, Kampuchea và Miến Điện) Việt Nam có số bằng sáng chế thấp nhất.

Nhưng tôi nghĩ con số bằng sáng chế không có nghĩa là khả năng sáng tạo của người Việt thấp.  Tôi nghĩ khả năng sáng tạo của người Việt không kém bất cứ ai; chỉ cần nhìn qua sự thành công của các chuyên gia gốc Việt ở nước ngoài thì biết nhận xét đó không quá đáng. Tôi nghĩ con số đó phản ảnh khả năng hội nhập khoa học và công nghệ của Việt Nam chưa cao, và thiếu tầm trong quản lí khoa học. Trong thực tế, các nhà lãnh đạo khoa học ở Việt Nam chưa quan tâm đến vấn đề đăng kí bằng sáng chế, vì họ vẫn còn loay hoay với những thủ tục hành chính.  Có người còn chưa biết thủ tục để đăng kí ra sao!

Cũng cần nói thêm rằng Việt Nam chưa có một cơ chế để hỗ trợ và phụ trách đăng kí sáng chế.  Theo tôi biết, Việt Nam còn thiếu những luật sư có kinh nghiệm trong việc đăng kí bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ.  Nhà khoa học thì chắc chưa chắc có khả năng tài chính để tự đăng kí, mà dù cho có khả năng tài chính thì không có luật sư cũng khó làm được.  Trong khi đó, các đại học còn chưa quan tâm đến nghiên cứu khoa học, thì họ đâu có thì giờ quan tâm đến việc đăng kí bằng sáng chế.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khoa học (tôi chỉ nói trong lĩnh vực y khoa) thường tập trung vào những chủ đề khó có thể đăng kí bằng sáng chế.  Nghiên cứu y khoa thường chia thành 3 loại: me too, incremental knowledge, và breakthrough. Nghiên cứu me too (bắt chước) có nghĩa là những nghiên cứu bắt chước người khác ở môi trường Việt Nam, không cho ra một phương pháp hay phát hiện gì mới, chủ yếu là để học nghề.

Nghiên cứu mang tính incremental knowledge là những nghiên cứu có đóng góp vào tri thức khoa học, nhưng mức độ đóng góp tương đối khiêm tốn (như phát triển phương pháp mới, phát hiện mới, cách tiếp cận mới,…) Các công trình breakthrough hay đột phá có nghĩa là những nghiên cứu định ra một trường phái mới, định nghĩa một lĩnh vực mới.  Hầu hết những nghiên cứu từ Việt Nam là me too nên khó có thể phát triển cái gì mới để có thể đăng kí bằng sáng chế.

Những lí do trên có thể giải thích tại sao Việt Nam chúng ta có mặt rất khiêm tốn trong bản đồ sáng tạo tri thức mới và bằng sáng chế”.

TS. Lê Văn Út – TS. Thái Lâm Toàn

http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/78867/hon-9-000-giao-su-sao-khong-co-bang-sang-che-.html

==================

TRÊN TRANG CỦA GS. NGUYỄN VĂN TUẤN

Đo lường khả năng sáng tạo của người Việt

In Email

https://i1.wp.com/www.clausbauer.com/Patents2.jpgHôm nay đọc báo thấy có một tựa đề khá … giật gân: Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế? Đây là bài viết của Ts Lê Văn Út và Ts Thái Lâm Toàn về sự yếu kém trong việc đăng kí bằng sáng chế của Việt Nam, trong đó có trích dẫn ý kiến của vài người, trong đó có tôi. Chúng ta đã nói nhiều đến việc công bố quốc tế, nhưng ít khi nào nói đến bằng sáng chế, vốn cũng là một chỉ tiêu quan trọng về sự sáng tạo của một quốc gia. Bài viết này làm cho các nhà quản lí khoa học chắc phải suy nghĩ làm thế nào để nâng cao và bảo vệ những thành quả sáng tạo khoa học kĩ thuật của Việt Nam.

Người Việt chúng ta – nói theo báo chí – là nổi tiếng thông minh và sáng tạo.  Cứ nhìn qua những sáng chế của giới “Hai Lúa” cũng thấy sức sáng tạo của người mình không đến nổi tệ.  Thế nhưng đo lường bằng những chỉ số khách quan thì chúng ta còn thua xa so với các nước trong vùng.

Năng suất khoa học của một quốc gia có thể đo bằng 2 chỉ số chính: số lượng bài báo khoa học và số bằng sáng chế.  Số lượng bài báo khoa học công bố trên các tập san khoa học trong danh mục của Viện thông tin khoa học (ISI) có lẽ là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá năng suất của nghiên cứu khoa học.  Trong quá khứ và hiện nay, các trung tâm nghiên cứu khoa học vẫn dùng chỉ tiêu đó để định vị một nước trong bản đồ khoa học quốc tế.  Chỉ tiêu thứ hai cũng rất quan trọng là số bằng sáng chế (patent).  Bằng sáng chế cũng chính là một hình thức chuyển giao công nghệ.  Bằng sáng chế có thể đăng kí trong và ngoài nước.  Ở nước ngoài, rất nhiều (có lẽ đa số) bằng sáng chế được đăng kí ở Mĩ. Do đó, người ta thường dùng số bằng sáng chế đăng kí ở Mĩ như là một thước đo thứ hai để đánh giá năng suất khoa học của một nước.

Trong thời gian qua, tôi và một số bạn khác đã phân tích số lượng và chất lượng bài báo khoa học.  Kết quả cho thấy năng suất khoa học nước ta còn rất thấp so với các nước trong vùng, nhưng có xu hướng tăng đáng kể trong thời gian gần đây.  Trong thời gian 1998-2008, Việt Nam công bố được 5070 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế.  Trong cùng thời gian, Thái Lan công bố được 23163 bài, cao hơn VN 4.5 lần.  Số bài báo khoa học của nước ta chỉ bằng 2% của Úc (238,076), 10% so với Singapore (51762), 34% Malaysia (14731), nhưng cao hơn Philippines (4558) và tương đương với Indonesia (5212).  Tính chung, năng suất khoa học nước ta thuộc vào nhóm thấp nhất trong vùng.

Nhưng chưa ai phân tích số bằng sáng chế từ Việt Nam trong thời gian qua.  Nhân đọc báo cáo của UNESCO, tôi có trích ra một số dữ liệu thú vị dưới đây (Biểu đồ).  Số liệu của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế.  Có năm (như 2002) chẳng có bằng sáng chế nào.  Trong cùng thời gian, Thái Lan đăng kí được 310 bằng sáng chế, Singapore 3644, cao hơn Việt Nam đến 192 lần!  Thật ra, số bằng sáng chế từ Việt Nam cũng thấp hơn Indonesia (85), Philippines (256), và Malaysia (901).

Khả năng sáng tạo của người Việt

Số bằng sáng chế đăng kí trong thời gian 2000 – 2007 từ các nước trong khối ASEAN. Biểu đồ bên phải là phóng đại biểu độ bên trái cho những nước có tần số quá thấp

Một chỉ tiêu khác cũng đáng chú ý là số kim ngạch xuất hàng hóa kĩ thuật cao (hi-tech). Theo báo cáo của UNESCO, trong năm 2008, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ “hi tech” trị giá 48.6 tỉ USD.  Con số này tuy “ấn tượng”, nhưng thật ra chưa bằng 1/3 của Thái Lan (153.6 tỉ USD) và chỉ 16% của Singapore (399.3 tỉ USD).  Thật ra, xuất khẩu hàng hi-tech của Việt Nam thấp nhất so với các nước trong vùng.

Nước Tổng giá trị xuất khẩu 2008 (tỉ USD) Tỉ trọng lĩnh vực kinh tế (%)
Khoảng sản Sản phẩm hóa chất Máy móc, thiết bị Hàng công nghiệp Hàng hóa khác
Việt Nam 48.6 20.7 2.3 11.5 41.0 24.5
Thái Lan 153.6 4.5 7.9 44.8 24.1 18.7
Malaysia 198.8 17.3 5.2 32.3 22.6 22.6
Indonesia 137.0 29.4 5.4 13.7 25.3 26.2
Philippines 50.5 2.4 2.4 39.1 13.0 43.5
Singapore 299.3 13.8 7.9 44.8 24.1 18.7

Nhìn qua những con số thống kê trên đây, chúng ta thấy gần hơn 1/5 tổng trị giá xuất khẩu hi-tech của Việt Nam là khoáng sản, và 41% là hàng công nghiệp (chủ yếu là gia công, dệt may).  Trong khi đó, ngành xuất khẩu chủ đạo của Thái Lan là máy móc và thiết bị (chiếm 45% tổng giá trị xuất khẩu) và hàng công nghiệp (24%).  Singapore cũng có xu hướng giống với Thái Lan.

Những dữ liệu trên đây một lần nữa xác định năng suất khoa học của nước ta còn quá thấp so với các nước trong vùng.  Năng lực sáng tạo và chuyển giao công nghệ phản ảnh qua số bằng sáng chế cũng còn quá thấp, thấp đến độ không đáng kể.  Ngoài ra, hàng xuất khẩu hi-tech cũng chẳng là bao (dù phần lớn là do liên doanh với nước ngoài).  Năm 2020 được xem là năm nước ta hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa.  Nhưng những dữ liệu thực tế trên đây cho thấy mục tiêu đó vẫn còn rất xa vời. Người Việt có lẽ rất thông minh và sáng tạo ở mức độ cá nhân, nhưng ở mức độ tập thể khả năng sáng tạo của ta thì cực kì thấp.

Bây giờ thì chúng ta chẳng những phải phấn đấu không chỉ nâng cao số và chất lượng công trình nghiên cứu khoa học, mà còn phải tích cực nâng cao việc đăng kí bằng sáng chế.  Để đăng kí bằng sáng chế, Việt Nam chẳng những cần phải có đầu tư từ chính phủ (để giúp các nhà khoa học đăng kí) mà còn cần đến những tổ hợp luật sư chuyên nghiệp có thể giúp cho giới khoa học nâng cao sự hiện diện của mình trên trường quốc tế.

========

http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/78867/hon-9-000-giao-su-sao-khong-co-bang-sang-che-.html

Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?

Từ năm 2006 – 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trung bình mỗi năm có 1 bằng sáng chế. Trong khi đó, năm 2011, chúng ta không có bằng sáng chế nào được đăng ký.

Không bằng sáng chế là chuyện… bình thường?!

Việt Nam không có bất cứ bằng sáng chế nào được đăng ký tại Mỹ trong năm 2011. Ảnh minh họa.

Một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế. Số bằng sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế thì thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao và thu được nhiều lợi nhuận.

Bằng sáng chế là hình thức sở hữu trí tuệ. Nó bao gồm một tập hợp các quyền độc quyền được cấp bởi một nhà nước có chủ quyền cho một nhà phát minh, hoặc nhận chuyển nhượng của họ trong một khoảng thời gian giới hạn để đổi lấy việc công bố công khai một kết quả sáng chế. Trong bài viết này, người viết chỉ đề cập bằng sáng chế Mỹ (US patent) bởi uy tín của nó.

Để bảo đảm tính “khách quan”, người viết không thống kê số bằng sáng chế Mỹ của chính nước Mỹ. Bài viết chỉ đề cập số bằng sáng chế Mỹ trong năm 2011, và được trích lục từ Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO). Dữ liệu về dân số và thu nhập được lấy từ BBC.

Theo thống kê, Nhật Bản là nước đứng đầu với 46139 bằng sáng chế, kế đến là Hàn Quốc với 12262 bằng sáng chế. Điều đáng lưu ý là Trung Quốc được xếp thứ 8 với 3174 bằng sáng chế; trong năm 2010, Trung Quốc cũng được xếp thứ 8 với 2657 bằng sáng chế.

Bảng 1: Nhóm 10 nước dẫn đầu (trừ Mỹ):

Hạng Nước Dân số (triệu) Số bằng sáng chế 2011
1 Nhật Bản 126.9 46139
2 Hàn Quốc 48.9 12262
3 Đức 82.1 11920
4 Đài Loan 23 8781
5 Canada 34.3 5012
6 Pháp 62.6 4531
7 Vương Quốc Anh 62.4 4307
8 Trung Quốc 1,350 3174
9 Israel 7.3 1981
10 Úc 21.5 1919

(Trung Quốc: không tính Hồng Kông và Ma Cao)

Trong khu vực Đông Nam Á, đất nước nhỏ bé Singapore với 4.8 triệu dân có 647 bằng sáng chế (một đất nước xa xôi ở Bắc Âu với dân số tương đương, Phần Lan với 5.3 triệu dân cũng có 951 bằng sáng chế). Đứng thứ hai là Malaysia với 161 bằng sáng chế. Trong khi đó, Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011.

Bảng 2: Nhóm vài nước Đông Nam Á:

Hạng Nước Dân số (triệu) Số bằng sáng chế 2011
1 Singapore 4.8 647
2 Malaysia 27.9 161
3 Thái Lan 68.1 53
4 Philippines 93.6 27
5 Indonesia 232 7
6 Brunei 0.407 1
7 Việt Nam 89 0

Trong bối cảnh Việt Nam phải hội nhập với thế giới bên ngoài về mọi mặt, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, kết quả thống kê trên thật sự đáng ngại cho khoa học Việt Nam. Chia sẽ vấn đề này, PGS. Phạm Đức Chính (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết: “Nghiên cứu cơ bản của Việt Nam chúng ta so sánh trong khu vực, trên cơ sở thống kê công bố quốc tế ISI, thua kém khá xa so với Singapore, Malaysia và Thái Lan. Về mặt công nghệ, ứng dụng thì tình hình còn tệ hơn, như theo một chỉ số quan trọng mà thống kê này cho thấy. Nếu như cứ cho rằng tiềm năng thực của chúng ta không tệ tới mức như vậy, thì năng lực hội nhập của chúng ta lại còn yếu hơn nữa. Mà yếu tố sống còn và đi lên của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh mọi mặt hiện nay, là chúng ta phải hội nhập được với thế giới.

Tuy nhiên, một thực tế là vấn đề tác quyền ở Việt Nam chưa được xem trọng một cách đúng mức. GS. Nguyễn Đăng Hưng (nguyên Trưởng khoa Cơ học phá hủy, Đại học Liège, Bỉ) chia sẻ: “Tôi không ngạc nhiên về những con số thống kê mà các tác giả đã có công tra cứu tham khảo. Bằng sáng chế là thước đo đẳng cấp công nghệ kỹ thuật của một nước. Việt Nam kém cỏi về công bố quốc tế về khoa học. Nhưng tụt hậu về khâu công nghệ kỹ thuật, không có bằng sáng chế đăng ký thì quả là trầm trọng hơn”.

Nguyên nhân vì đâu?

Đã đến lúc các nhà quản lí khoa học ở Việt Nam phải nhìn nhận lại thực tế yếu kém của khoa học Việt Nam, đặc biệt là các khoa học ứng dụng. So với các nước trong khu vực thì Việt Nam có số lượng tiến sĩ rất lớn, nhưng thành tựu khoa học của Việt Nam, cụ thể là số bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ, quá yếu kém như thế thì quả là một thực tế khó chấp nhận. Đã đến lúc, Nhà nước và các nhà khoa học phải có một nhận thức chung về nguyên nhân và cách khắc phục sự yếu kém trên.

Là người có nhiều nghiên cứu về khoa học Việt Nam, GS. Nguyễn Văn Tuấn (Viện nghiên cứu Y khoa Garvan và ĐH New South Wales) đã chỉ ra một số lý do mà theo quan điểm của cá nhân ông là nguyên nhân dẫn tới tình trạng này:

“Tôi không ngạc nhiên với số bằng sáng chế của Việt Nam được đăng kí ở Mĩ. Trong một bài trước đây, tôi trích dữ liệu từ báo cáo của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000 – 2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế. Có năm (như 2002) không có bằng sáng chế nào được đăng kí. Do đó, năm 2011 không có bằng sáng chế từ Việt Nam được đăng kí cũng có thể xem là chuyện… bình thường.

Nhưng một điều không bình thường là với một đội ngũ trên 9.000 giáo sư và phó giáo sư, và hàng trăm ngàn tiến sĩ và thạc sĩ mà không có bằng sáng chế đăng kí. Càng không bình thường khi chúng ta so sánh với Thái Lan (có ít giáo sư và tiến sĩ hơn ta) khi trong cùng thời gian 2000-2007 đã có đến 310 bằng sáng chế. Có thể nói rằng trong các nước Đông Nam Á (ngoại trừ Lào, Kampuchea và Miến Điện) Việt Nam có số bằng sáng chế thấp nhất.

Nhưng tôi nghĩ con số bằng sáng chế không có nghĩa là khả năng sáng tạo của người Việt thấp.  Tôi nghĩ khả năng sáng tạo của người Việt không kém bất cứ ai; chỉ cần nhìn qua sự thành công của các chuyên gia gốc Việt ở nước ngoài thì biết nhận xét đó không quá đáng. Tôi nghĩ con số đó phản ảnh khả năng hội nhập khoa học và công nghệ của Việt Nam chưa cao, và thiếu tầm trong quản lí khoa học. Trong thực tế, các nhà lãnh đạo khoa học ở Việt Nam chưa quan tâm đến vấn đề đăng kí bằng sáng chế, vì họ vẫn còn loay hoay với những thủ tục hành chính.  Có người còn chưa biết thủ tục để đăng kí ra sao!

Cũng cần nói thêm rằng Việt Nam chưa có một cơ chế để hỗ trợ và phụ trách đăng kí sáng chế.  Theo tôi biết, Việt Nam còn thiếu những luật sư có kinh nghiệm trong việc đăng kí bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ.  Nhà khoa học thì chắc chưa chắc có khả năng tài chính để tự đăng kí, mà dù cho có khả năng tài chính thì không có luật sư cũng khó làm được.  Trong khi đó, các đại học còn chưa quan tâm đến nghiên cứu khoa học, thì họ đâu có thì giờ quan tâm đến việc đăng kí bằng sáng chế.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khoa học (tôi chỉ nói trong lĩnh vực y khoa) thường tập trung vào những chủ đề khó có thể đăng kí bằng sáng chế.  Nghiên cứu y khoa thường chia thành 3 loại: me too, incremental knowledge, và breakthrough. Nghiên cứu me too (bắt chước) có nghĩa là những nghiên cứu bắt chước người khác ở môi trường Việt Nam, không cho ra một phương pháp hay phát hiện gì mới, chủ yếu là để học nghề.

Nghiên cứu mang tính incremental knowledge là những nghiên cứu có đóng góp vào tri thức khoa học, nhưng mức độ đóng góp tương đối khiêm tốn (như phát triển phương pháp mới, phát hiện mới, cách tiếp cận mới,…) Các công trình breakthrough hay đột phá có nghĩa là những nghiên cứu định ra một trường phái mới, định nghĩa một lĩnh vực mới.  Hầu hết những nghiên cứu từ Việt Nam là me too nên khó có thể phát triển cái gì mới để có thể đăng kí bằng sáng chế.

Những lí do trên có thể giải thích tại sao Việt Nam chúng ta có mặt rất khiêm tốn trong bản đồ sáng tạo tri thức mới và bằng sáng chế”.

TS. Lê Văn Út – TS. Thái Lâm Toàn

Ý kiến bạn đọc

  • so di khong co bang sang che
    Việt nam với hơn 9000 giáo sư, phó giáo sư và hàng tram tiến sỹ, phó tiến sỹ nhưng rất hạn chế việc có bằng sáng tạo bởi một số lý do sau: Thứ nhất là do đội ngũ cán bộ lãnh đạo không quan tâm đến khả năng sáng tạo của mọi người và họ không có khả năng quản lý khoa học và khi có ai đó khởi xướng một đề tài nghiên cứu thì xúm vào theo đóm ăn tàn và tranh công( việc này đã xẩy ra). Thứ hai, nhiều học hàm học vị đều.. .mua nên làm gì có khả năng mà sáng với chả chế. Trong khi đó rất nhiều bác nông dân, anh công nhân chỉ mới học qua trung học cơ sơ, trung học phổ thông mà đã có nhiều sáng chế áp dung vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất chăn nuôi, kể cả chế ra máy bay trực thăng nhưng rồi họ có cho người ta được bay đâu, họ chỉ bay trong nhà xưởng của họ đó thôi. Vì vậy không ngạc nhiên với những tấm bằng sáng chế ít xuất hiện ơ Việt Nam. nguyen tuan Gửi lúc 04/07/2012 02:38
  • Bằng sáng chế ở Mỹ
    Tôi đang làm ở cục cấp bằng sáng chế ở Mỹ, tôi có một vài ý kiến. Vấn đề nộp hồ sơ xin cấp bằng sáng chế không phải đơn giản, thứ nhất là tốn tiền, thứ hai là mất thời gian. Chi phí trả cho việc xin cấp bằng khoảng vài ngàn USD, nộp hồ sơ xong thì phải chờ khoảng 2-3 năm để được xét duyệt (bây giờ chỉ mới xét đến hồ sơ nộp năm 2008-2009, cũng tùy từng bộ phận). Nếu được cấp bằng thì phải đóng tiền hàng năm, không phải là ít (khoảng 1000 USD/năm) trong vòng 20 năm. Các nước như Taiwan, Korea, Japan… có nhiều Patent là do các công ty lớn trả tiền cho nghiên cứu và tư vấn luật (như Samsung, LG…) và sẵn sàng bỏ tiền để tranh tụng nếu cần thiết. Tôi thiết nghĩ nhà nước và các công ty ở VN nên đầu tư vào nghiên cứu và tìm kiếm hỗ trợ về luật sáng chế (patent law) ở Mỹ để hòa nhập vào thế giới. Nhiều công ty lớn như Kodak, đang trên bờ phá sản, nhưng vẫn còn giá trị nhờ vào số lượng bằng sáng chế vẫn còn hiệu lực.
    Virginia Gửi lúc 04/07/2012 01:54
  • Trách ai?
    Trách ai bây giờ? Tất nhiên các gs, pgs, ts là người phải có phát minh, sáng chế. Nhưng để có phát minh, sáng chế thì phải có người đủ tầm quản lý khoa học, đủ tầm để định hướng phát triển, biết giao nhiệm vụ và cấp cả kinh phí.
    Văn Quân Gửi lúc 04/07/2012 01:32
  • So sánh khập khểnh
    Gần đây nhiều người (có cả nhà Khoa học) rỗi hơi đi so sánh như bài viết này. Thử hỏi, khi đăng ký Phát minh-sáng chế chủ nhân phải bỏ ra tối thiểu 2.000 USD và mỗi năm phải nộp chừng đó tiên cho 50 năm. Một nhà Khoa học VN thu nhập khoảng 200-300USD/ tháng. Vậy bằng sáng chế dùng làm gì? Tôi biết TS Nguyễn Dần ( viện Hóa) có trên 20 bằng sáng chế VN mà vẫn sống lay lắt, trong khi TS Nguyễn Trọng Giao ( ĐH Dược Hà Nội có rất nhiều ý tưởng , không đăng ký mà chỉ khai thác ,ứng dụng thì có cuộc sống tuyệt vời). VN mình nó vậy, ta hay a dua theo nhiều người để chê bai,… Mọi so sánh đều khập khểnh!
    Nguyễn Đình Phúc Gửi lúc 04/07/2012 01:19
  • Chế hay Chê
    Nếu trên thế giới có nơi đăng ký bằng…tối chế thì hay quá, mình đăng ký ngay. Nghĩ mà buồn nhỉ.
    ruoitrau Gửi lúc 04/07/2012 09:55
  • Sáng chế để kiếm tiền
    Lo sáng chế để kiếm tiền sống chứ hơi đâu mà đăng với ký chứ!
    Nguyễn Văn Hùng Gửi lúc 04/07/2012 09:55
  • Xấu hổ với thế giới
    Bài báo viết quá đầy đủ các số liệu về chất lượng đội ngũ giáo sư – tiến sĩ của ta. Mỗi năm lại thêm hàng ngàn người được phong, cấp bằng TS, GS. Với đội ngũ đông như hội mà chả có phát minh, sáng tạo và cũng gần như số không bài báo KH đăng trên các tạp chí thế giới. Chất lượng đội ngũ làm KH kém cỏi là đương nhiên vì có đơn đặt hàng là sau vài năm nữa phải cho ra lò 2 vạn tiến sĩ. Đào tạo con người có trình độ cao mà cứ như sản xuất robot sao mà chất lượng như các nước? Ngược lại VN chế tạo ra người có bằng cấp GS, TS nhanh nhiều nhất thế giới.
    Ngọc Sơn Gửi lúc 04/07/2012 09:46
  • Tồn tại quyết định ý thức
    Trừ những “nhà khoa học làm kinh tế” còn lại các NKH đều làm việc một cách thực sự. Tại sao họ làm việc thực sự mà lại không có một bằng sáng chế nào? Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, công nghiệp chậm phát triển. Vì vậy mà chúng ta phải nghiên cứu lại những phát minh mà những nước phát triển đã làm được cách đây rất nâu. Việc này có ý nghĩa để duy trì khoảng cách với nước phát triển tránh bị họ vượt quá xa. Nó thường mang tính lý thuyết, thiếu điều kiện áp dụng vào thực tế và không có tính đột phá. Thực trạng của nền CN nước ta hiện nay đang bị phụ thuộc vào các doanh nghiệp FDI. Chúng ta tạo ra những chính sách thuận lợi mời gọi họ vào đầu tư. Họ mang vốn, công nghệ của họ tạo ra SP cung cấp cho chính người dân VN. Họ tạo ra việc làm, họ đóng thuế… Nhưng đồng thời họ cũng đang dần bóp chết nền CN non kém của nước ta. Vì vậy mà những sáng chế của các NKHVN sẽ không có đất để ươm mầm, không có phân bón để chăm sóc… Đây chính là một trong những tồn tại quyết định tới việc nghiên cứu của các NKH.
    Nguyễn Anh Tuấn Gửi lúc 04/07/2012 02:14
  • Báo động cho nền giáo dục nước nhà
    Nền giáo dục việt nam phải chịu trách nhiệm về vấn đề này, chức danh GS- TS do ngành GD đề ra, thử hỏi chức danh đó để làm gì? có ích gì cho đất nước, vấn nạn này là một hệ thống nhưng cần phải thẳng thắng nhận định, Khoa học kỹ thuật của VN ngày càng đi lùi so với thế giới.
    nguyễn hữu chỉnh Gửi lúc 03/07/2012 10:09
  • ảo và thật
    Thành tích ảo, bằng cấp giả dối giết chết lao động sáng tạo chân chính.
    HUYNH ANH TUAN Gửi lúc 03/07/2012 09:39
  • giáo sư, tiến sĩ việt nam là gọi cho oai thôi
    Việt Nam ta nổi tiếng học giỏi, lí thuyết giỏi, nói giỏi, chạy chức chạy quyền giỏi… còn sáng chế thì xin thưa các vị GS, TS ta thua nông dân. Tôi còn nhớ chỉ sau một đêm các PTS nằm mơ một giấc mơ đẹp sáng mai bổng dưng trở thành tiến sĩ. Vậy lấy đâu óc để mà nghiên cứu, ăn tốn tiền thuế của dân.
    thang Gửi lúc 03/07/2012 08:32
  • Giáo sư chỉ là hư danh
    Việt nam chúng ta chỉ thích hư danh, còn họ kiếm được bằng giáo sư xong rồi ngồi chơi ấy mà. Tớ không cần phải phấn đấu là thạc sỹ, tiến sỹ hay giáo sư. Nếu tớ đam mê, tớ vẫn có sáng chế của riêng mình, giống như những bác nông dân ở đồng bằng sông cửu long, vua diệt chuột ở Hà Tây hay như giám đốc công ty Rừng hoa Đà Lạt – chưa bao giờ qua đào tạo về nghề nông mà vẫn phát triển được ngành trồng hoa và đưa hoa trồng tại Việt nam ra thế giới.
    Đồ cổ Gửi lúc 03/07/2012 07:39
  • Giá trị của bằng sáng chế?
    Tôi hiện đang là nghiên cứu sinh ở Rotterdam Hà Lan. Đọc bái báo này thấy thật là buồn cười. Ngạc nhiên hơn là tác giả lại là hai người có chức danh TS. 1) ĐỂ đăng kí 1 bằng sáng chế quốc tế của riêng mình thì nó có giá trị trong 50 năm, và hàng năm phải nộp phí khoảng vài ngàn đô cho 50 giá trị đó. 2) Ông giáo sư trưởng của tôi đứng đầu nhóm nghiên cứu đến 50 người, tuy mới 45 tuổi nhưng đi hội nghị quốc tế cùng chuyên ngành nhắc đến tên ổng thì ai cũng biết, ấy mà ông đâu có bằng sáng chế nào đâu. Nhưng bài báo thì có cả hàng trăm. 3) Nếu nói giáo sư ở VN mà không có bài báo trên tạp trí uy tín quốc tế thì mới là điều đáng bàn. Ở Việt Nam, thật giả lẫn lộn rất khó phân biệt…
    Lưu Hà Gửi lúc 03/07/2012 07:06
  • tôi có Bằng Sáng Chế….
    Chào các bạn độc giả, Khi đọc bài viết này, tôi khá hiểu vấn đề được anh chị em quan tâm, xin chia sẻ dưới vai trò của 1 tác giả SANG CHẾ vừa đạt giải nhì cuộc thi sáng chế tp.hcm năm 2011, được tổ chức vảo tháng 3 năm nay. Trước tiên, việc đăng ký phải nói là khá khó khăn khi chúng ta có 1 nhận thức chung là sáng chế sẽ bị nhái mà với tài lực của tác giả sẽ ko ngăn chận dc nên nhiều tác giả sau khi cân đong cơm áo gạo tiền lại tiếc nuối bỏ qua. Thứ 2, lấy được bằng rồi, tác giả lại phải đối mặt tiếp với khả năng phát triển nó bằng mồ hôi, nước mắt của bản thân và gia đình… trong mặt trận này, sự rơi rụng là còn cao hơn nữa . Thứ 3, việc đổ hết công sức vào sáng chế chỉ có khi bạn có tiền nhiều, nếu ko có nhiều lại phải chờ đợi tích lũy dẫn tới bào mòn các tâm huyết vào sáng chế của bản thân tác giả Tôi chỉ bàn về việc tiến hành công việc phát triển tại VN thôi, là đã nhiêu khê lắm rồi, nếu đăng ký quá Mỹ nữa càng không thể.
    nguyễn long uy bảo Gửi lúc 03/07/2012 06:20
  • Quá nhiều tiến sĩ rởm ở Việt Nam
    Phải nhìn thẳng vào sự thật về trình độ rất kém của các tiến sĩ ở Việt Nam. Đa số các “tiến sĩ” Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, họ chỉ mất có hai đến ba năm,kể cả thời gian học ngoại ngữ, để có tấm bằng Condiat khoa học (bằng thời gian học và hoàn thành luận văn thạc sĩ ở Việt Nam), chỉ ngang bằng Master của các nước tư bản, nhưng về Việt Nam lại được nhà nước Việt nam công nhận là bằng tiến sĩ. Để có được bằng tiến sĩ ở Liên Xô cũ và Nga hiện nay, phải mất thêm 3-4 năm nghiên cứu, sau khi có bằng Condiat và bảo vệ thành công luận án cấp tiến sĩ, thì mới được công nhận học hàm tiến sĩ, gọi là bằng Docter .Hiện nay ở Nga đang cải tổ công tác đào tạo tiến sĩ, nhiều trường đại học không được phép đào tạo tiến sĩ nữa vì trình độ “thầy” và cơ sở nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn.
    Trần Hùng Gửi lúc 03/07/2012 04:59
  • Bằng TS chỉ cho đẹp CV
    Bằng Tiến sĩ, người ta có thể có được bằng cách này hay cách khác (nỗ lực học tập và nghiên cứu hay bỏ tiền ra mua). Nhưng chung quy lại sau khi có nó rồi thì các TS tập trung vào kiếm cơm chẳng ai nghiên cứu cả thì lấy đâu ra bằng sáng chế…
    Linh Gửi lúc 03/07/2012 04:48
  • Sáng chế ở việt nam
    Người việt sáng chế đầy, anh nông dân còn dám làm máy bay trực thăng, học hết lớp 4 còn làm được cầu bê tông thay cầu khỉ… Nhưng muốn lấy Bằng sáng chế thì hãy ghi tên sếp vào nhé.
    Phạm quang toản Gửi lúc 03/07/2012 10:42
  • Bệnh bằng cấp
    1/Bệnh háo danh chẳng gắn liền với lòng Tự trọng. Họ luôn tìm cách để có mặc dù mình chẳng Xứng đáng. 2/Nhà nước ta quá quan tâm tới bằng cấp, nhưng chưa có đủ biện pháp để làm cho có chất thực sự
    phạm hải dương Gửi lúc 03/07/2012 10:36
  • Cần suy ngẫm kỹ
    Những con số thống kê này phải được đặc biệt các nhà lãnh đạo có trí tuệ quan tâm. Bản thân nó đã cho biết mặt bằng tiến sĩ, giáo sư ở VN như thế nào so với các nước. Không thể tiếp tục sản xuất thêm những giáo sư, tiến sĩ kiểu này nữa.
    kingqn Gửi lúc 03/07/2012 09:51
  • Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?
    Toàn bằng giả không ,lấy gì sáng với chế?!
    Lê Công Gửi lúc 03/07/2012 08:59
  • Bằng tiến sĩ mua bằng tiền
    Tôi biết ý kiến của tôi sẽ không được đăng. Nhưng ai ai cũng biết, nước ta bằng tiến sĩ giấy nhiều vô số. Ý tôi ở đây đôi khi bằng mua bằng tiền … và bằng rất nhiều hình thức khác. Tất nhiên cá nhân tôi rất tôn trọng những người có năng lực và học thức đàng hoàng. Nhưng đúc kết 1 câu ngắn gọn đa số các bằng tiến sĩ ở nước ta như: “một con bò cột trước cổng trường đại học danh tiếng sau nhiều năm liền vẫn lấy đươc bằng tiến sĩ “.
    Nguyễn Văn Thiện Gửi lúc 03/07/2012 08:35

http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1533-do-luong-kha-nang-sang-tao-cua-nguoi-viet-

***********************************

Có bao nhiêu nhà khoa học VN có công bố quốc tế?

In Email

https://i2.wp.com/www.tandfonline.com/na101/home/literatum/publisher/tandf/books/content/books/0/e-elis3/e-elis3-120043253/production/images/small/f0001.gifLiên quan đến tình hình hoạt động khoa học, một trong những bài báo gây ảnh hưởng gần đây có lẽ là bài “Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?” của Ts Lê Văn Út và Thái Lâm Toàn. Bài báo bàn về số lượng bằng sáng chế từ Việt Nam, nhưng qua bài này tôi nghĩ đến qui luật Lotka có thể giải thích tại sao năng suất khoa học của Việt Nam còn khiêm tốn.

Trong nghiên cứu về nghiên cứu khoa học (scientometrics) có một qui luật rất nổi tiếng liên quan đến năng suất khoa học, gọi là Qui luật Lotka (1). Qui luật Lotka phát biểu rằng nếu có x tác giả, mỗi tác giả công bố chỉ 1 bài báo, thì sẽ có an tác giả công bố n bài theo định luật

an = x / nk

Trong đó, k là một hằng số mà Lotka tìm ra là k = 2 (thường thường là thế). Qui luật trên cũng có thể mô tả theo mô hình tuyến tính:

Log(an) = log(x) – 2log(n)

Có thể lấy vài ví dụ để minh chứng cho qui luật này. Chẳng hạn như ở một đại học lớn, trong số khoảng 3000 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, nhưng chỉ có 135 người active trong nghiên cứu khoa học và có công bố quốc tế. Trong số 125 người này, thì có 74 người công bố chỉ 1 bài báo trong thời gian 5 năm. Nói cách khác, x = 74. Với con số này, chúng ta dùng luật Lotka đế tiên đoán rằng có 18 tác giả với mỗi tác giả công bố 2 bài trong cùng thời gian [74 / (2^2) = 18]. Tương tự có thể tính số tác giả với 3 bài là 8 người. Vân vân.  Qui luật Lotka tiên lượng khá chính xác cho đại học này.

Quay lại vấn đề năng suất khoa học, câu hỏi đặt ra là Việt Nam có bao nhiêu người thực sự làm nghiên cứu khoa học và có công bố quốc tế. Rất khó trả lời câu hỏi này cụ thể được, nên chúng ta chỉ có thể ước tính qua luật Lotka. Trước hết, chúng ta cần biết mẫu số của những người làm nghiên cứu và có tiềm năng công bố quốc tế. Đó là những người có học hàm giáo sư và phó giáo sư, có bằng tiến sĩ và thạc sĩ. Theo thống kê thì hiện nay, Việt Nam có:

  • 9000 giáo sư và phó giáo sư;
  • 14000 tiến sĩ; và
  • 16000 thạc sĩ.

Sự phân bố thạc sĩ và tiến sĩ có vẻ đáng nghi ngờ. Nhưng tạm thời, chúng ta chấp nhận con số nhà khoa học có thể công bố quốc tế là 9000 + 14000 + 16000 = 39,000 người.

Tính từ 1966 đến nay (2012), Việt Nam công bố được 10,855 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Tuy có tăng trưởng trong những năm gần đây, nhưng chúng ta vẫn kém hơn Thái Lan rất nhiều. Có thể chia theo thời gian và so sánh với Thái Lan như sau:

Năm Việt Nam Thái Lan
1966 – 1975 98 499
1976 – 1985 260 3123
1986 – 1995 1031 4448
1996 – 2005 3475 20005
2006 – 6/2012 5991 24063

Nguồn: Web of Science (ISI)

Tổng số tác giả có công bố quốc tế rất khó tính, vì có tên tác giả ngoại quốc. Nhưng số tác giả có 40 bài chỉ khoảng 50 người. Dùng con số này, tôi ước tính ngược lại con số tác giả công bố chỉ 1 bài là khoảng 3500 người. Và, tính như thế, con số tác giả (tính từ 1966 đến nay) có công bố trên các tập san quốc tế có lẽ là 6 ngàn người. Dĩ nhiên, đây là ước số cho tất cả những nhà khoa học từ thập niên 1960s đến nay. Con số hiện đang active nghiên cứu có lẽ chỉ bằng phân nửa con số trên, và ngay cả trong số này, có lẽ phần lớn là nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Do đó, trong số 39000 nhà khoa học, số người thật sự làm nghiên cứu có công bố quốc tế có lẽ chỉ khoảng 1000 người, tức 2.5%. Đó là một con số rất khiêm tốn.

Cố nhiên, con số 1000 người cần phải đặt trong bối cảnh nhiều hạn chế của nó. Hạn chế chính là vấn đề giả định. Có thể qui luật Lotka không áp dụng được cho tình hình Việt Nam. Có thể hằng số k không phải là 2 mà là một con số khác, và cần phải nghiên cứu thêm. Chỉ cần một trong những giả định này sai thì ước số cũng sai. Nhưng ước số trên khá phù hợp với con số ở trường đại học lớn tôi đề cập trong phần đầu bài viết. Con số trên có lẽ cũng giải thích tại sao mặc dù Việt Nam có nhiều giáo sư và phó giáo sư, nhưng năng suất khoa học còn rất khiêm tốn.

Ghi chú:

1. Lotka AJ. The frequency distribution of scientific productivity. Journal of Washington Academy of Sciences 1926;16:317-23.

2. Xin quảng cáo thêm một chút :-). Nhân chuyến công tác bên nhà vào tháng 8 này, tôi sẽ có một buổi toạ đàm về công bố quốc tế trong ngành khoa học xã hội và giáo dục tại Viện nghiên cứu phát triển giáo dục (IRED) vào ngày 9/8. Tôi sẽ trình bày một số dữ liệu do tôi thu thập và phân tích về số lượng và chất lượng ấn phẩm liên quan đến khoa học xã hội ở Việt Nam và so sánh với các nước Đông Nam Á trong thời gian 1996 đến 2010.

http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1540-co-bao-nhieu-nha-khoa-hoc-vn-co-cong-bo-quoc-te-

*******************************************************

 

Bài viết và trích dẫn trên báo Việt Nam: Xem

Tổng hợp bài viết và trích dẫn trên các báo: Xem

Tất cả bài viết và sưu tầm: Xem

Advertisements

5 Comments »

  1. […] nhắc lại bài viết gốc là “Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011”. Sau đó VietNamNet có sửa lại tựa là “Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng […]

  2. 2
    Ẩn danh Says:

    Kính hỏi Tiến sĩ Út,
    Bằng sáng chế và Bằng phát minh có gì giống/khác nhau? Nếu có một so sánh, thì có thể đánh giá loại Bằng nào cao hơn? Nếu Bằng phát minh “có đẳng cấp quốc tế” là thật như các báo tiếng Việt đăng tải, thì tôi nghĩ VN mình “có mặt” không “khiêm tốn trong bản đồ sáng tạo tri thức” như TS kết luận đâu.
    Cám ơn TS
    ======================================
    Chào bác,

    Tôi thấy ở đây có các ý kiến đáng suy ngẫm về khái niệm phát minh, sáng chế. Xin gửi bác tham khảo:

    http://phannghiemlawyer.groupsite.com/post/v-c-c-thu-t-ng-ph-t-minh-ph-t-hi-n-s-ng-ch

    http://www.vatgia.com/hoidap/4485/11231/phat-minh-va-sang-che-khac-nhau-nhu-the-nao.html

    Tuy nhiên tôi không quan tâm vấn đề này lắm vì hình như ganh giới giữa hai cụm từ đôi khi không rõ ràng.

    Chúc bác khỏe,

    UVL

  3. 3
    Văn Nhân Says:

    Kính hỏi TS. Út,
    bằng sáng chế và bằng phát minh có gì khác/giống nhau? Nếu có thể làm một so sánh, thì loại bằng nào được đánh giá cao hơn?
    Cám ơn TS

  4. 4
    Nhân Văn Says:

    Thưa TS. Út,
    Hôm trước tôi có mạn phép hỏi, theo thống kế trong bài viết được TS trích lại từ “Báo cáo của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế”, nhưng trong một bài báo vào năm 2006, có đăng tải ghi nhận ông Ng.Th.M: “Đã có 50 bằng phát minh đẳng cấp quốc tế”- theo báo Lao động ( http://nguoiduongthoi.blogspot.com/2006/05/tin-s-ngnh-nng-lng-vt-liu-nguyn-thanh.html). Vậy, tôi theo TS, sự thực là thế nào? Tôi rất mờ hồ vì không biết đâu là sự thực. TS có thể giúp tôi tháo gỡ thắc mắc này được không?
    Xin chân thành cám ơn!

    • 5
      utvle Says:

      Chào bác Nhân Văn,

      Xin chân thành cảm ơn bác đã gửi ý kiến. Về vấn đề bác nêu thì tôi chưa rõ “50 bằng phát minh đẳng cấp quốc tế” nghĩa là gì? Chi tiết “Báo cáo của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế” mà GS. Nguyễn Văn Tuấn, http://nguyenvantuan.net/, nêu thì tôi nghĩ là về số bằng sáng chế bao gồm đăng ký ở Mỹ và một số các nước khác (theo UNESCO).

      Bài viết của tôi chỉ nói về bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ. Về lí do, bác vui lòng xem bài: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=5240. Giai đoạn 2000- 2007, Việt Nam chỉ có 03 bằng sáng chế được đăng ký ở Mỹ, chi tiết xin bác vui lòng xem tại http://www.uspto.gov/web/offices/ac/ido/oeip/taf/cst_utl.htm.

      Trân trọng,

      UVL


RSS Feed for this entry

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: