Việt Nam không cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ?

Bài đã được đăng trên Tạp Chí Tia Sáng: VN không cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ?

Việt Nam không cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ?


Trước đây, người viết có làm một thống kê về số bằng sáng chế được đăng kí ở Mỹ (ngắn gọn: bằng sáng chế Mỹ) của một số nước, và nhận được nhiều phản hồi tích cực và cả chưa tích cực. Cũng cần nhắc lại những con số trong thống kê này: Trong 5 năm 2006 – 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được Mỹ công nhận; cũng trong thời gian đó, Nhật có 197,075, Đức có 54,971, Canada có 22,095 và một đất nước nhỏ bé trong khu vực Đông Nam Á là Singapore có 2,496.

Một trong những ý kiến “phản đối” đáng lưu ý là “Việt Nam không cần có bằng sáng chế Mỹ”! Những người phản đối trưng ra những lí do như: chi phí đắt, giá trị khoa học không cao, trò chơi pháp lí hơn khoa học, khả năng ứng dụng không cao, trò chơi may rủi, mạo hiểm, v.v.. Thậm chí có người có mỉa mai: “Dùng bằng sáng chế để so sánh đánh giá một nền khoa học có khi giống như hỏi: “Việt Nam có bao nhiêu bằng lái xe hơi vậy?””

Trước một thực tế rất đáng suy ngẫm là trong năm 2011 Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ, việc trả lời câu hỏi “Việt Nam cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ hay không?” quả thật là “khó khăn”.

Tuy nhiên, GS. Nguyễn Văn Tuấn (Úc) từng nhận xét rằng số bằng sáng chế là một tiêu chí khách quan để đánh giá nền khoa học của một nước. Để hiểu rõ hơn về bằng sáng chế Mỹ và giá trị của nó, người viết có cuộc trao đổi với TS. Trần Lê Nam về vấn đề này. Anh là đồng tác giả của bằng sáng chế Mỹ mang số “US 2008/0225936 A1“. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ngành công nghệ điện tử tại Đại học Kyung Hee, Hàn Quốc, TS. Trần Lê Nam được mời làm giảng viên tại trường. Sau đó anh quyết định làm nghiên cứu sau tiến sĩ (postdoc) tại Học Viện Kỹ Thuật Hoàng Gia Thụy Điển (KTH) để trau dồi kiến thức tại một trong những trung tâm nghiên cứu xuất sắc của châu Âu và thế giới. Hiện tại anh đang làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Trung tâm xuất sắc về truyền thông không dây (Center of Excellence for Wireless Communications) thuộc Đại học Oulu ở Phần Lan.

 

TS. Trần Lê Nam

 

Hỏi: Xin anh cho biết các nước đánh giá thế nào về tầm quan trọng của bằng sáng chế?

TS. Trần Lê Nam: Việc xác định tầm quan trọng của bằng sáng chế đối với mỗi quốc gia nằm ngoài khẳ năng của tôi. Tuy nhiên có một điều chắc chắn là tất cả các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển thì số lượng bằng sáng chế đều đứng hàng đầu thế giới. Nghĩa là, các viện nghiên cứu, trường đại học, và các công ty ở những nước đó đều được khuyến khích (hay thậm chí là bắt buộc) đăng ký bản quyền cho những phát minh của mình. Trong rất nhiều trường hợp kết quả của việc thực hiện dự án được đánh giá dựa trên số lượng bằng sáng chế. Ví dụ như dự án mà tôi đang tham gia ở đai học Oulu, người ta yêu cầu phải đăng ký ít nhất 1 bằng sáng chế, tất nhiên là ngoài việc phải có bài báo đăng ở tạp chí hoặc hội nghị. Vì vậy, theo tôi nghĩ, không có nước nào xem nhẹ tầm quan trọng của bằng sáng chế đối với nền khoa học công nghệ. Vần đề là làm thế nào để có nhiều bằng sáng chế có chất lượng.

Hỏi: Theo anh kết quả về số lượng bằng sáng chế của một nước có liên hệ gì với thành tựu nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng của nước đó?

TS. Trần Lê Nam: Trước hết chúng ta phải thấy rằng nghiên cứu lý thuyết vá ứng dụng liên hệ mật thiết với nhau, ít nhất là trong lĩnh vực công nghệ. Nghiên cứu ứng dụng chỉ có thể phát triển nếu như chúng ta có một mô hình lý thuyết đầy đủ. Ngược lại, những yêu cầu từ thực tế lại đặt ra các vấn đề mới cho nghiên cứu lý thuyết. Trong giai đoạn phát triển nhanh chóng về mặt công nghệ như hiện nay, những kết quả mà nghiên cứu lý thuyết mang lại có thể áp dụng vào thực tế chỉ trong vòng vài năm, trong khi trước đây phải mất vài chục năm. Như vậy, về mặt công nghệ, thật khó để phân biệt giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng. Một điều không hay mà tôi được biết ở Việt Nam là chúng ta thường có ý xem nhẹ các nghiên cứu lý thuyết, kể cả trong những lĩnh vực có tính ứng dụng cao. Điều này bắt nguồn từ việc chúng ta không thấy được tiềm năng ứng dụng của những nghiên cứu lý thuyết đó.

Bỏ qua tính pháp lý, bằng sáng chế có thể được hiểu như là những sáng kiến có tính thương mại cao, có thể ứng dụng vào các sản phẩm thương mại và đem lại những thay đổi to lớn, ít nhất là về mặt kinh tế. Đối với các nhà nghiên cứu ở các nước phát triển, nếu thấy rằng những phát minh của mình có thể đem lại lợi nhuận cao, họ có thể liên hệ với các công ty để “bán” ý tưởng của mình, hoặc có thể đăng ký bằng sáng chế và tự thành lập công ty của riêng mình. Nhìn vào số lượng bằng sáng chế, ta có thể đánh giá sơ bộ nền khoa học của nước đó. Tôi không cổ vũ cho việc chạy đua để có nhiều bằng sáng chế, vì nó phải xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của việc nghiên cứu. Nhưng nếu một quốc gia có quá ít bằng sáng chế (được hiểu là bằng sáng chế của Mỹ) thì chắc chắn rằng nền khoa họa ứng dụng của nước đó vẫn chưa hoặc không đủ sức hướng đến sân chơi toàn cầu.

 

Hỏi: Anh nghĩ sao khi có nhận xét “một bằng sáng chế thật ra không bằng một công trình trên Science hay Nature, hay các bài báo khoa học ISI nói chung”?

TS. Trần Lê Nam: Bằng sáng chế và các công trình đăng trên các tạp chí hay hội nghị khoa học có ý nghĩa tương đối khác nhau, nên việc so sánh khá khập khiễng. Trong quá trình từ nghiên cứu lý thuyết đến khoa học ứng dụng, các bài báo khoa học thường nằm trong giai đoạn đầu, còn bằng sáng chế nằm ở giai đoạn cuối của quá trình. Việc đánh giá bài báo khoa học và bằng sáng chế thì tùy thuộc vào quan điểm mỗi người. Đứng trên khía cạnh kinh tế, bằng sáng chế có thể được xem trọng hơn. Tuy nhiên về mặt học thuật thì bài báo khoa học có tiếng vang hơn. Bằng sáng chế có thể rất đơn giản nhưng giá trị về măt kinh tế là rất lớn. Chẳng hạn như QUALCOMM có bằng sáng chế về công nghệ CDMA cho điện thoại di động, và nhiều nước đã phải trả rất nhiều tiền để dùng công nghệ này. Ngược lại các bài báo khoa học thiên về tính hàn lâm, nghĩa là các bài báo khoa học thường là đặt những viên đá đầu tiên cho một xu thế công nghệ. Tôi có thể lấy ngay một ví dụ, tất cả những bước phát triển trong ngành viễn thông nói chung và thông tin di động nói riêng đều bắt đầu từ bài báo “A Mathematical Theory of Communication” của Claude Shannon đăng trên tạp chí “The Bell System Technical Journal” năm 1948. Hiểu theo một nghĩa rộng, bài báo khoa học thường đóng góp vào kiến thức chung của nhân loại, còn bằng sáng chế là tài sản riêng.

 

Thực tế là đối với các nhà nghiên cứu trong trường đai học, việc đăng bài ở các tạp chí khoa học phải là nhiệm vụ chính. Tuy nhiên cũng không nên thờ ơ với bằng sáng chế nếu có điều kiện. Giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh của tôi đã viết cho tôi như thế này khi bắt đầu đăng ký bằng sáng chế với QUALCOMM (xin trích nguyên văn, mặc dù tiếng Anh cũng không chuẩn lắm): “I hope to file the IPR successfully. If it is filed and implemented in Qualcomm chip, you and I will be rich. (Half is joke and half is desire)”. Tạm dịch là: Tôi hi vọng sẽ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ thành công. Nếu phương pháp được đăng ký và thực hiện trên vi mạch của công ty QUALCOMM, anh và tôi sẽ giàu có (nữa là đùa, nữa là ước muốn).

Trong rất nhiều trường hợp, bài báo khoa học và bằng sáng chế có liên hệ với nhau. Thậm chí là giống nhau về ý tưởng nhưng cách trình bày khác nhau. Ý tưởng trong bằng sáng chế mà tôi cùng đồng sở hữu cũng được đăng trên tạp chí khoa học. Một ví dụ khác rất nổi tiếng trong lĩnh vục công nghệ không dây là nhà nghiên cứu Siavash Alamouti. Bài báo đăng trên tạp chí IEEE Selected Areas in Communications năm 1998 của ông được IEEE Communication Society đánh giá là 1 trong 57 bài báo quan trọng nhất trong tất cả các bài báo của hiệp hội trong vòng 50 năm qua. Kỹ thuật mà ông ấy trình bày trong bài báo đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, và có mặt hầu hết trong các tiêu chuẩn truyền thông không dây hiện nay. Một điều thú vị là ông ấy cũng đã đăng ký bản quyền cho ý tưởng trong bài báo này. Nghĩa là ông ấy đang hưởng lợi kinh tế từ bản quyền, và nổi tiếng về mặt khoa học từ bài báo của mình.

Hỏi: Có ý kiến cho rằng “Bằng sáng chế không phải là thước đo công bằng cho một nền khoa học, nhất là đối với các nước kinh tế còn khó khăn” và “Bằng sáng chế được sử dụng như công cụ pháp luật và kinh tế hơn là để so sánh hơn kém năng lực khoa học”. Anh nghĩ sao về những nhận định này?

 TS. Trần Lê Nam: Không có thước đo nào hoàn hảo để đánh giá một nền khoa học. Tuy nhiên số lượng bằng sáng chế cũng là tiêu chí quan trọng. Ý của tôi là, bản thân sự phát triển khoa học công nghệ tự nhiên sẽ dẫn đến số lượng bằng sáng chế tăng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, các nước phát triển đều có số lượng bằng sáng chế cao, và những nước có ít bằng sáng chế thì nền khoa học kỹ thuật kém phát triển.  Có một ngoại lệ mà chắc ai cũng biết, đó là nước Nga hiện nay. Cụ thể là nước Nga có nền khoa học cơ bản và ứng dụng thuộc hàng mạnh của thế giới nhưng số lượng bằng sáng chế không nhiều. Chuyện này chúng ta nên đề cập rõ hơn vào dịp khác. Tuy nhiên cũng không nên lấy một vài trường hợp cá biệt để xem nhẹ bằng sáng chế.

Tất nhiên bằng sáng chế được sử dụng như công cụ pháp luật và kinh tế. Nhưng nó cũng phần nào phản ánh trình độ phát triển công nghệ. Hàn Quốc trước đây đã từng là nước kém phát triển, nhưng với tầm nhìn hướng đến một nền cộng nghệ phục vụ xuất khẩu, chúng ta thấy rõ số lượng bằng sáng chế của họ đã tăng nhanh chóng. Ví dụ những năm từ 2007 đến 2011, số bằng sáng chế lần lượt là 7264, 8730, 9566, 12508, và 13239. Điều này cũng trùng hợp với giai đoạn phát triển mọi mặt về nền khoa học công nghệ của Hàn Quốc, điển hình là ngành công nghệ điện tử và xe hơi của họ đã leo lên hàng đầu thế giới. Theo ý kiến cá nhân của tôi, đối với một nước kinh tế còn khó khăn như Việt Nam, thì chúng ta vẫn nên khuyến khích việc đăng ký bằng sáng chế nhưng phải có chọn lọc. Đồng thời chính phủ cũng nên dành kính phí để hỗ trợ việc triển khai các ý tưởng đó vào thưc tế. Các nước mà tôi từng làm việc đều có viện nghiên cứu ứng dụng hoặc các cơ quan hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng mạnh. Ví dụ Hàn Quốc có viện ETRI chuyên về nghiên cứu ứng dụng (http://www.etri.re.kr/eng/), Thụy Điển có VINNOVA (http://www.vinnova.se/en/), Phần Lan có TEKES (http://www.tekes.fi/en/). ETRI, mặc dù là viện nghiên cứu của chính phủ Hàn Quốc, cũng đứng hàng đầu về số lượng bằng sáng chế Mỹ. Điều này cũng làm tôi ngạc nhiên vì theo quan điểm của tôi thì bằng sáng chế thường gắn liền với các công ty. Hiện nay ETRI đang có tranh chấp về bản quyền với hầu hết các hãng lớn của thế giới như APPLE, NOKIA,….

Tôi được biết là có một số ý kiến cho rằng bằng sáng chế cũng giống như bằng lái xe, và nhiều bằng sáng chế thì cũng giống như có nhiều bằng lái xe. So sánh như vậy là hoàn toàn sai lầm. Sự khác biệt rõ nhất là bằng sáng chế bao giờ cũng có hàm lượng “chất xám” cao, còn bằng lái xe thì không. Cũng xin nói thêm là, nếu một nước nào đó mà đa số người dân có bằng lái xe thì cũng là điều tốt, vì họ đã đủ điều kiện kinh tế để nghĩ tới việc mua xe.  Nếu áp dung nguyên tắc này vào bằng sáng chế, thì việc có nhiều bằng sáng chế đồng nghĩa với việc chúng ta đã sẵn sàng cạnh tranh về mặt công nghệ với thế giới.

Hỏi: Lại có ý kiến cho rằng “Rất ít sáng chế ứng dụng thực sự trong sản xuất” nên không cần phải đăng ký bằng sáng chế vì rất tốn kém. Theo anh thì nhận định này có hoàn toàn đúng không?

 TS. Trần Lê Nam: Thực tế là số lượng bằng sáng chế đang được sử dụng thì ít hơn rất nhiều so với số lượng đã được đăng ký. Tuy nhiên nếu nói rằng không cần phải đăng ký bằng sáng chế là hoàn toàn sai. Đối với các công ty, số lượng bằng sáng chế chưa được sử dụng được xem như của để dành, chứ không phải không có ứng dụng thực sự trong sản xuất. Ví dụ như Kodak rao bán hơn 1000 bằng sáng chế của mình và dự kiến có thể mang về 2 tỷ USD, nhằm thoát khỏi tình trạng phá sản. Hoặc như công ty Nortel từng bán 6,000 bằng sáng chế với trị giá khoảng 4,5 tỷ USD. Bằng sáng chế bao giờ cũng đi trước 1 bước so với thực tế, và ở dạng tiềm năng. Nếu đợi đến khi thấy rõ ứng dụng của một nghiên cứu nào đó rồi mới đăng ký hoặc không cần đăng ký, chúng ta lúc nào cũng là người đi sau.

Cũng như kinh tế, trong nghiên cứu ứng dụng cũng có những dự án có tính rủi ro cao nhưng có tiềm năng lớn (high-risk high-potential). Tuy nhiên không phải vì tính rủi ro cao mà chúng ta không dám theo đuổi. Phần thưởng chỉ dành cho những ai dám mạo hiểm.

Hỏi: Xin anh cho biết sơ lược về thủ tục đăng ký bằng sáng chế Mỹ mà anh đã có kinh nghiệm?

 TS. Trần Lê Nam: Thủ tục xin bằng sáng chế cua Mỹ tương đối phức tạp mà tôi cũng không thể biết hết, và do phía công ty QUALCOMM của Mỹ, công ty hàng đầu thế giới về chip viễn thông, lo các thủ tục. Trong thời gian 3 năm làm dự án với họ thì nhóm nghiên cứu của tôi đưa ra 3 IDF (Invention Disclosure Form). Đây thường là bước đầu tiên để xin bằng sáng chế vì các công ty dựa vào cái này để quyết định xem có nên đăng ký bằng sáng chế hay không. Sau đó chúng tôi phải thuyết phục QUALCOMM về khả năng ứng dụng của các ý tưởng này (xin trích nguyên văn tiếng Anh mà tôi nhận được từ họ: how well the idea works in practice). Để làm được điều này, chúng tôi phải mô phỏng kết quả theo những điều kiện gần với thực tế mà QUALCOMM  đưa ra. Sau khi các nhà nghiên cứu của họ xem xét thì chỉ có 1 IDF được đăng ký bằng sáng chế. Hai ý tưởng còn lại thì khá giống với những gì họ đang làm. Sau đó các giấy tờ liên quan sẽ được nộp lên cơ quan cấp bằng sáng chế của Mỹ (U.S. Patent & Trademark Office). Thời gian từ lúc nộp hồ sơ cho tới lúc công bố tương đối lâu. Điều này cho thấy xin bằng sáng chế không phải dễ như chúng ta tưởng. Xin nói thêm là, vì QUALCOMM sở hữu khá nhiều bằng sáng chế quan trọng trong lĩnh vực viễn thông, nên hầu hết các công ty điện thoại di động hàng đầu thế giới như SAMSUNG, NOKIA,… ít hay nhiều đều phải chia sẻ lợi nhuận cho QUALCOMM, mặc dù họ không phải là nhà sản xuất các thiết bị di động.

Hỏi: Theo anh, Việt Nam có thể gặp những khó khăn gì khi đăng ký bằng sáng chế Mỹ? Và những nhà khoa học ở Việt Nam có nên đăng ký bằng sáng chế (Mỹ chẳng hạn) một khi họ có phát minh mới không, thưa anh?

 TS. Trần Lê Nam: Nếu chúng ta có ý tưởng tốt và khác biệt thì việc đăng ký không có gì trở ngại, ngoài các thủ tục pháp lý mà chúng ta bắt buộc phải thực hiện.  Tôi nghĩ khó khăn nhất là chúng ta không biết những cái gì đã được đăng ký bản quyền. Hay nói cách khác, chúng ta không biết rõ công nghệ trên thế giới đã tiến đến đâu để tập trung trọng tâm đầu tư vào đâu. Như tôi nói ở trên, bằng sáng chế thường đi trước một bước so với các ứng dụng hiện tại. Điều này làm tôi nhớ lại khi học đại học ở Việt Nam, có những cái mà tôi tưởng là mới thì thực ra thế giới đã làm từ lâu rồi.

Việc những nhà khoa học ở Việt Nam có nên đăng ký bằng sáng chế hay không thì tùy thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân và chính sách phát triển khoa học của nước đó. Thế giới cũng có nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng nhưng không có nhiều bằng sáng chế vì họ không quan tâm nhiều đến giai đoạn biến ý tưởng đó vào sản phẩm ứng dụng. Đối với họ, những khám phá đó đem lại niềm vui khám phá khoa học cho bản thân, và kết quả là của mọi người. Vì vậy việc công bố các công trình trên các tạp chí khoa học là đủ. Việc này rất đáng trân trọng. Ngược lại, cũng có rất nhiều giáo sư đại học, đặc biệt là các giáo sư ở Mỹ trong các lĩnh vực khoa hoc ứng dụng, đã xin bằng sáng chế cho những ý tưởng của mình và dựa vào đó thành lập công ty của riêng mình. Ví dụ như giáo sư Andrea Goldsmith của đại học Standford là người đồng sáng lập và là CTO của công ty Quantenna Communications, một công ty hàng đầu thế giới chuyên về thiết kế vi mạch cho chuẩn 802.11n. Một ví dụ khác nữa là giáo sư Arogyaswami Paulraj, cũng tại đại học Standford, thành lập công ty Iospan Wireless năm 1999, chuyên về công nghệ MIMO-OFDMA. Mặc dù công nghệ MIMO-OFDMA lúc này đang trong giai đoạn sơ khai, và hầu hết các ý tưởng là trên lý thuyết. Tuy nhiên năm 2003, Intel đã phải mua lại công ty này mà chủ yếu là để dùng các bằng sáng chế của họ. Tiếp sau đó, vào năm 2004, giáo sư Arogyaswami Paulraj tiếp tục thành lập công ty Beceem Communications, và sau đó bán lại cho tập đoàn Broadcom vào năm 2010. Chắc chúng ta cũng có thể hình dung được lợi nhuận mà các thương vụ này đem lại. Công ty QUALCOMM cũng được thành lập bởi giáo sư Irwin Jacobs, và giờ đây là một công ty hàng đầu thế giới. Đây là những ví dụ đáng để chúng ta suy nghẫm, nhất là một nước còn khó khăn về kinh tế như Việt Nam của chúng ta.

Hỏi: Tại sao các nước hay đăng ký bằng sáng chế Mỹ?

TS. Trần Lê Nam: Bằng sáng chế của Mỹ thường được quan tâm vì thị trường Mỹ bao giờ cũng là đích ngắm của các công nghệ mới. Khẳng định được vị trí ở thị trường khó tính này thì việc chiếm lĩnh thị trường toàn cầu là việc nằm trong tầm tay. Quốc gia nào cũng có cơ quan đăng ký bằng sáng chế của riêng mình, nhưng bằng sáng chế của Mỹ mới là tấm giấy thông hành và cũng là lá khiên bảo vệ khi chúng ta bước ra thế giới. Ngay cả những nước có thị trường rộng lớn, đầy tiềm năng như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, họ có nhiều lý do hơn Việt Nam để không cần bằng sáng chế Mỹ. Nhưng thực tế thì ngược lại, số lượng bằng sáng chế Mỹ của họ ngày càng tăng. Điều này là bởi vì các nước này hướng đến một ngành công nghệ phục vụ xuất khẩu, bán sản phẩm cho toàn thế giới. Khi tôi còn học ờ Hàn Quốc, trong các dự án với các công ty, họ đều ưu tiên đăng ký bằng sáng chế của Mỹ trước. Trong những năm gần đây, các công ty về điện thoại di động của Trung Quốc như HUAWEI, ZTE đã phát triển rất nhanh, và đã làm cho các đại gia khác e sợ. Nếu tìm hiểu kỹ thì sẽ thấy là các công ty này đã có nhiều bằng sáng chế của Mỹ trước đó khá lâu. Khi nào Việt Nam  chúng ta có những công ty hướng đến toàn cầu như thế, việc đăng ký bằng sáng chế Mỹ là điều tất nhiên. Còn nếu chúng ta chỉ muốn phục vụ cho thị trường nội địa hoặc chỉ là làm gia công cho nước ngoài, thì đăng ký bằng sáng chế Mỹ là không cần thiết.

Xin chân thành cảm ơn TS. Trần Lê Nam về những trao đổi thú vị, khoa học và bổ ích.

Bài liên quan: Việt Nam không có bằng sáng chế đăng nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011.

TS. Lê Văn Út

===========================

Trên Tạp chí Tia Sáng

*

Quản lý khoa học

11:22-04/06/2012
VN không cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ?

TS. Lê Văn Út


TS. Trần Lê Nam
Đầu năm nay, người viết có làm một thống kê1 cho thấy Việt Nam có quá ít bằng sáng chế được Mỹ công nhận, so với ngay cả các nước trong khu vực. Bài viết nhận được nhiều phản hồi, trong đó nổi bật có ý kiến “Việt Nam không cần có bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ” với lý do chi phí đắt, giá trị khoa học không cao v.v.. Thậm chí có người  mỉa mai: “Dùng bằng sáng chế để so sánh đánh giá một nền khoa học có khi giống như hỏi: “Việt Nam có bao nhiêu bằng lái xe hơi vậy?”

Để hiểu rõ hơn về bằng sáng chế Mỹ và giá trị của nó, người viết có cuộc trao đổi với TS. Trần Lê Nam về vấn đề này.

Hỏi: Xin anh cho biết các nước đánh giá thế nào về tầm quan trọng của bằng sáng chế?


TS. Trần Lê Nam
: Việc xác định tầm quan trọng của bằng sáng chế đối với mỗi quốc gia nằm ngoài khẳ năng của tôi. Tuy nhiên có một điều chắc chắn là tất cả các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển thì số lượng bằng sáng chế đều đứng hàng đầu thế giới. Nghĩa là, các viện nghiên cứu, trường đại học, và các công ty ở những nước đó đều được khuyến khích (hay thậm chí là bắt buộc) đăng ký bản quyền cho những phát minh của mình. Trong rất nhiều trường hợp kết quả của việc thực hiện dự án được đánh giá dựa trên số lượng bằng sáng chế. Ví dụ như dự án mà tôi đang tham gia ở đai học Oulu, người ta yêu cầu phải đăng ký ít nhất 1 bằng sáng chế, tất nhiên là ngoài việc phải có bài báo đăng ở tạp chí hoặc hội nghị. Vì vậy, theo tôi nghĩ, không có nước nào xem nhẹ tầm quan trọng của bằng sáng chế đối với nền khoa học công nghệ. Vần đề là làm thế nào để có nhiều bằng sáng chế có chất lượng.

 
Theo anh kết quả về số lượng bằng sáng chế của một nước có liên hệ gì với thành tựu nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng của nước đó?

Trong 5 năm 2006 – 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được Mỹ công nhận; cũng trong thời gian đó, Nhật có 197.075, Đức có 54.971, Canada có 22.095 và một đất nước nhỏ bé trong khu vực Đông Nam Á là Singapore có 2.496.

Trước hết chúng ta phải thấy rằng nghiên cứu lý thuyết vá ứng dụng liên hệ mật thiết với nhau, ít nhất là trong lĩnh vực công nghệ. Nghiên cứu ứng dụng chỉ có thể phát triển nếu như chúng ta có một mô hình lý thuyết đầy đủ. Ngược lại, những yêu cầu từ thực tế lại đặt ra các vấn đề mới cho nghiên cứu lý thuyết. Trong giai đoạn phát triển nhanh chóng về mặt công nghệ như hiện nay, những kết quả mà nghiên cứu lý thuyết mang lại có thể áp dụng vào thực tế chỉ trong vòng vài năm, trong khi trước đây phải mất vài chục năm. Như vậy, về mặt công nghệ, thật khó để phân biệt giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng. Một điều không hay mà tôi được biết ở Việt Nam là chúng ta thường có ý xem nhẹ các nghiên cứu lý thuyết, kể cả trong những lĩnh vực có tính ứng dụng cao. Điều này bắt nguồn từ việc chúng ta không thấy được tiềm năng ứng dụng của những nghiên cứu lý thuyết đó.

Anh nghĩ sao khi có nhận xét “một bằng sáng chế thật ra không bằng một công trình trên Science hay Nature, hay các bài báo khoa học ISI nói chung”?

– Việc đánh giá bài báo khoa học và bằng sáng chế thì tùy thuộc vào quan điểm mỗi người. Đứng trên khía cạnh kinh tế, bằng sáng chế có thể được xem trọng hơn. Tuy nhiên về mặt học thuật thì bài báo khoa học có tiếng vang hơn. Bằng sáng chế có thể rất đơn giản nhưng giá trị về kinh tế lại rất lớn. Chẳng hạn như QUALCOMM có bằng sáng chế về công nghệ CDMA cho điện thoại di động, và nhiều nước đã phải trả rất nhiều tiền để dùng công nghệ này. Ngược lại các bài báo khoa học thường đặt những viên đá đầu tiên cho một xu thế công nghệ. Tôi có thể lấy ngay một ví dụ, tất cả những bước phát triển trong ngành viễn thông nói chung và thông tin di động nói riêng đều bắt đầu từ bài báo “A Mathematical Theory of Communication” của Claude Shannon đăng trên tạp chí “The Bell System Technical Journal” năm 1948. Hiểu theo một nghĩa rộng, bài báo khoa học thường đóng góp vào kiến thức chung của nhân loại, còn bằng sáng chế là tài sản riêng.

Trong rất nhiều trường hợp, bài báo khoa học và bằng sáng chế có liên hệ với nhau. Thậm chí là giống nhau về ý tưởng nhưng cách trình bày khác nhau. Một ví dụ rất nổi tiếng trong lĩnh vục công nghệ không dây là nhà nghiên cứu Siavash Alamouti. Bài báo đăng trên tạp chí IEEE Selected Areas in Communications năm 1998 của ông được IEEE Communication Society đánh giá là 1 trong 57 bài báo quan trọng nhất trong tất cả các bài báo của hiệp hội trong vòng 50 năm qua. Kỹ thuật mà ông ấy trình bày trong bài báo đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, và có mặt hầu hết trong các tiêu chuẩn truyền thông không dây hiện nay. Một điều thú vị là ông ấy cũng đã đăng ký bản quyền cho ý tưởng trong bài báo này. Nghĩa là ông ấy đang hưởng lợi kinh tế từ bản quyền, và nổi tiếng về mặt khoa học từ bài báo của mình.

Có ý kiến cho rằng “Bằng sáng chế không phải là thước đo công bằng cho một nền khoa học, nhất là đối với các nước kinh tế còn khó khăn” và “Bằng sáng chế được sử dụng như công cụ pháp luật và kinh tế hơn là để so sánh hơn kém năng lực khoa học”. Anh nghĩ sao về những nhận định này?

TS. Trần Lê Nam là đồng tác giả của bằng sáng chế Mỹ mang số
“US 2008/0225936 A1”. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ngành công nghệ điện tử tại Đại học Kyung Hee, Hàn Quốc, TS. Trần Lê Nam được mời làm giảng viên tại trường. Sau đó anh quyết định làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Học Viện Kỹ Thuật Hoàng Gia Thụy Điển (KTH) để trau dồi kiến thức tại một trong những trung tâm nghiên cứu xuất sắc của châu Âu và thế giới. Hiện tại anh đang làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại Trung tâm xuất sắc về truyền thông không dây (Center of Excellence for Wireless Communications) thuộc Đại học Oulu ở Phần Lan.

Không có thước đo nào hoàn hảo để đánh giá một nền khoa học. Tuy nhiên số lượng bằng sáng chế cũng là tiêu chí quan trọng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, các nước phát triển đều có số lượng bằng sáng chế cao, và những nước có ít bằng sáng chế thì nền khoa học kỹ thuật kém phát triển. Có một ngoại lệ mà chắc ai cũng biết, đó là nước Nga có nền khoa học cơ bản và ứng dụng thuộc hàng mạnh của thế giới nhưng số lượng bằng sáng chế không nhiều. Chuyện này chúng ta nên đề cập rõ hơn vào dịp khác. Tuy nhiên cũng không nên lấy một vài trường hợp cá biệt để xem nhẹ bằng sáng chế.

Tất nhiên bằng sáng chế được sử dụng như công cụ pháp luật và kinh tế. Nhưng nó cũng phần nào phản ánh trình độ phát triển công nghệ. Ví dụ như Hàn Quốc từ năm 2007 đến 2011, số bằng sáng chế lần lượt là 7.264, 8.730, 9.566, 12.508, và 13.239, điều này cũng trùng hợp với giai đoạn phát triển mọi mặt về nền khoa học công nghệ của Hàn Quốc, điển hình là ngành công nghệ điện tử và xe hơi của họ đã leo lên hàng đầu thế giới.

Theo ý kiến cá nhân của tôi, đối với một nước kinh tế còn khó khăn như Việt Nam, thì chúng ta vẫn nên khuyến khích việc đăng ký bằng sáng chế nhưng phải có chọn lọc. Đồng thời chính phủ cũng nên dành kính phí để hỗ trợ việc triển khai các ý tưởng đó vào thưc tế. Các nước mà tôi từng làm việc đều có viện nghiên cứu ứng dụng hoặc các cơ quan hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng mạnh. Ví dụ Hàn Quốc có viện ETRI chuyên về nghiên cứu ứng dụng (http://www.etri.re.kr/eng/), Thụy Điển có VINNOVA (http://www.vinnova.se/en/), Phần Lan có TEKES (http://www.tekes.fi/en/).

Lại có ý kiến cho rằng “Rất ít sáng chế ứng dụng thực sự trong sản xuất” nên không cần phải đăng ký bằng sáng chế vì rất tốn kém. Theo anh thì nhận định này có hoàn toàn đúng không?

Thực tế là số lượng bằng sáng chế đang được sử dụng thì ít hơn rất nhiều so với số lượng đã được đăng ký. Tuy nhiên nếu nói rằng không cần phải đăng ký bằng sáng chế là hoàn toàn sai. Đối với các công ty, số lượng bằng sáng chế chưa được sử dụng được xem như của để dành, chứ không phải không có ứng dụng thực sự trong sản xuất. Ví dụ như Kodak rao bán hơn 1000 bằng sáng chế của mình và dự kiến có thể mang về 2 tỷ USD, nhằm thoát khỏi tình trạng phá sản. Hoặc như công ty Nortel từng bán 6,000 bằng sáng chế với trị giá khoảng 4,5 tỷ USD. Bằng sáng chế bao giờ cũng đi trước 1 bước so với thực tế, và ở dạng tiềm năng. Nếu đợi đến khi thấy rõ ứng dụng của một nghiên cứu nào đó rồi mới đăng ký hoặc không cần đăng ký, chúng ta lúc nào cũng là người đi sau.

Tại sao các nước hay đăng ký bằng sáng chế Mỹ?

– Bằng sáng chế của Mỹ thường được quan tâm vì thị trường Mỹ bao giờ cũng là đích ngắm của các công nghệ mới. Khẳng định được vị trí ở thị trường khó tính này thì việc chiếm lĩnh thị trường toàn cầu là việc nằm trong tầm tay. Quốc gia nào cũng có cơ quan đăng ký bằng sáng chế của riêng mình, nhưng bằng sáng chế của Mỹ mới là tấm giấy thông hành và cũng là lá khiên bảo vệ khi chúng ta bước ra thế giới. Khi tôi còn học ờ Hàn Quốc, trong các dự án với các công ty, họ đều ưu tiên đăng ký bằng sáng chế của Mỹ trước. Trong những năm gần đây, các công ty về điện thoại di động của Trung Quốc như HUAWEI, ZTE đã phát triển rất nhanh, và đã làm cho các đại gia khác e sợ. Nếu tìm hiểu kỹ thì sẽ thấy là các công ty này đã có nhiều bằng sáng chế của Mỹ trước đó khá lâu. Khi nào Việt Nam chúng ta có những công ty hướng đến toàn cầu như thế, việc đăng ký bằng sáng chế Mỹ là điều tất nhiên. Còn nếu chúng ta chỉ muốn phục vụ cho thị trường nội địa hoặc chỉ là làm gia công cho nước ngoài, thì đăng ký bằng sáng chế Mỹ là không cần thiết.

Theo anh, Việt Nam có thể gặp những khó khăn gì khi đăng ký bằng sáng chế Mỹ? Và những nhà khoa học ở Việt Nam có nên đăng ký bằng sáng chế (Mỹ chẳng hạn) một khi họ có phát minh mới không, thưa anh?

– Việc những nhà khoa học ở Việt Nam có nên đăng ký bằng sáng chế hay không thì tùy thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân và chính sách phát triển khoa học của nước đó. Thế giới cũng có nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng nhưng không có nhiều bằng sáng chế vì họ không quan tâm nhiều đến giai đoạn biến ý tưởng đó vào sản phẩm ứng dụng. Đối với họ, những khám phá đó đem lại niềm vui khám phá khoa học cho bản thân, và kết quả là của mọi người. Vì vậy việc công bố các công trình trên các tạp chí khoa học là đủ. Việc này rất đáng trân trọng. Ngược lại, cũng có rất nhiều giáo sư đại học, đặc biệt là các giáo sư ở Mỹ trong các lĩnh vực khoa hoc ứng dụng, đã xin bằng sáng chế cho những ý tưởng của mình và dựa vào đó thành lập công ty của riêng mình. Ví dụ như giáo sư Andrea Goldsmith của đại học Standford là người đồng sáng lập và là CTO của công ty Quantenna Communications, một công ty hàng đầu thế giới chuyên về thiết kế vi mạch cho chuẩn 802.11n.

Theo tôi, nếu nàh khoa học Việt Nam có ý tưởng tốt và khác biệt thì việc đăng ký không có gì trở ngại, ngoài các thủ tục pháp lý mà chúng ta bắt buộc phải thực hiện. Điều khó khăn nhất là chúng ta không biết những cái gì đã được đăng ký bản quyền. Hay nói cách khác, chúng ta không biết rõ công nghệ trên thế giới đã tiến đến đâu để tập trung trọng tâm đầu tư vào đâu. Điều này làm tôi nhớ lại khi học đại học ở Việt Nam, có những cái mà tôi tưởng là mới thì thực ra thế giới đã làm từ lâu rồi.

Xin chân thành cảm ơn TS. Trần Lê Nam về những trao đổi bổ ích này.

1. https://levanut.wordpress.com/2012/01/21/vi%E1%BB%87t-nam-co-bao-nhi%E1%BB%81u-b%E1%BA%B1ng-sang-ch%E1%BA%BF

***********************************

Bài viết và trích dẫn trên báo Việt Nam: Xem

Tổng hợp bài viết và trích dẫn trên các báo: Xem

Tất cả bài viết và sưu tầm: Xem

Advertisements

5 Comments »

  1. […] tốt đừng khoe! (SGGP). – 3 HS Việt Nam đoạt huy chương Vàng APMOPS 2012 (GDTĐ). – Việt Nam không cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ? (Lê Văn Út). – Tác giả quà, tác giả ma (Nguyễn Văn Tuấn). – Tôi không thể học […]

  2. 3
    Ẩn danh Says:

    Thưa TS. Út,
    Sáng nay (3/7) tôi có đọc bài ‘Hơn 9000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?’ đăng tải trên VNN (http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/78867/hon-9-000-giao-su-sao-khong-co-bang-sang-che-.html). Trong đó tác giả có thống kê, nêu: “Từ năm 2000 đến 2007 Việt Nam chỉ đăng kí 19 bằng sáng chế”, nhưng theo một bài báo: ‘Cậu bé bán kem thành nhà triệu phú’ thì nói rằng nhà khoa học kiêm doanh nhân tên Ng.Th. M đã có đến 50 bằng sáng phát minh tầm cỡ quốc tế (http://vietbao.vn/Phong-su/Cau-be-ban-kem-thanh-nha-trieu-phu/40080192/263/). Vậy, cho tôi hỏi 2 câu: Một, đâu là sự thật? Hai, bằng sáng chế và bằng phát minh có gì giống và khác nhau?
    Xin cám ơn TS.
    ======================================
    Chào bác,

    Tôi thấy ở đây có các ý kiến đáng suy ngẫm về khái niệm phát minh, sáng chế. Xin gửi bác tham khảo:

    http://phannghiemlawyer.groupsite.com/post/v-c-c-thu-t-ng-ph-t-minh-ph-t-hi-n-s-ng-ch

    http://www.vatgia.com/hoidap/4485/11231/phat-minh-va-sang-che-khac-nhau-nhu-the-nao.html

    Tuy nhiên tôi không quan tâm vấn đề này lắm vì hình như ganh giới giữa hai cụm từ đôi khi không rõ ràng.

    Chúc bác khỏe,

    UVL

  3. […] (C) https://levanut.wordpress.com/2012/06/01/viet-nam-khong-can-co-bang-sang-che-dang-ki-o-my/ Related Posts :Giải thích của TS Lê Văn Út về bằng "Licentiate"Tiếp theo bài "Một sự thật khác về “bằng TS” của Thứ trưởng Bộ Y tế", chúng tôi xin trích giới thiệu loạt bài viết của TS Lê Văn Út về bằng "Licentiate" (tiếng Thụy Điển: Licentiatexamen): [capti …GS Nguyễn Văn Tuấn: Trung Quốc là cọp giấy khoa học?Bee.net.vn (01/08/2011) –  Mới đây, một nhà khoa học TQ bị buộc phải rút lại 70 bài báo ông đã công bố vì ngụy tạo dữ liệu. Có người cho rằng, đó là cái giá Trung Quốc phải trả cho vị trí số 2 về …TS Lê Văn Út, "Licentiate" và đồng nghiệpTiếp theo loạt bài đã giới thiệu của TS Lê Văn Út về bằng "Licentiate", chúng tôi tiếp tục đăng lại dưới đây một số chi tiết mới về đề tài này:   Tiếp về bằng Licentiate: Thư trả lời từ Đ …Tinh hoa giáo dục thế giới bàn chuyện tài năng- Tất cả trẻ em đều có tài năng, nhưng dường như chính hệ thống giáo dục hiện nay đang triệt tiêu dần khả năng sáng tạo của các em. Lời tòa soạn: Chuỗi hội thảo công nghệ, giải trí, thiết kế (v …GS. Phạm Quang Tuấn thuyết phục Science như thế nào?GS. Phạm Quang Tuấn thuyết phục Science đăng thư phản đối đường lưỡi bò như thế nào? *** Tác giả: TS Lê Văn Út *** Như tin đã đưa, một lá thư phản đối về đường lưỡi bò phi lý của GS Phạm Qu …By Blogsdna […]

  4. […] Việt Nam không cần có bằng sáng chế đăng kí ở Mỹ? (Lê Văn […]


RSS Feed for this entry

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: