Bộ Giáo dục Phần Lan: chỉ thổi còi chứ không đá bóng

Bản thu gọn và edited được đăng trên Báo Người Lao Động: Chỉ “thổi còi” chứ không “đá bóng” Xin chân thành cảm ơn Toà Soạn của Báo Người Lao Động đã mời người viết tham gia chủ đề quan trọng này.

***

“Quá khứ như một giấc mơ,
Tương lai tựa ảo tưởng,
Trong khi hiện tại như đám mây.”
(Đức Phật)

*

“Sai lầm luôn luôn có thể thứ tha nếu người ta biết can đảm chấp nhận nó”

Bruce LeeLý Tiểu Long (1940 – 1973), Diễn viên Mỹ gốc TQ, Huấn luyện viên võ thuật, Triết gia – FB Power Quotes

(Chỉ ghé thăm trái đất có 33 năm nhưng đã để lại nơi này kho tàng qúi giá. Do đó, vấn đề không phải là sống dai!)

***

Bộ Giáo dục Phần Lan: chỉ thổi còi chứ không đá bóng


Thế nào là tự chủ đại học?

 

Một hôm người viết tâm sự với một đồng nghiệp Phần Lan: “Từ lâu tôi quan sát coi có văn bản hay thông báo gì từ Bộ Giáo Dục Phần Lan đến Đại học Oulu không, nhưng chưa thấy gì cả. Chẳng lẻ, Đại học Oulu không thuộc sự quản lí của Bộ?” Anh bạn ngạc nhiên trả lời: “Các đại học ở Phần Lan hoàn toàn tự chủ, hoạt động theo luật giáo dục Phần Lan. Bộ Giáo Dục chỉ có vai trò giám sát, hoàn toàn không được nhúng tay trực tiếp vào hoạt động của các đại học”.

Thật vậy, thông tin trên trang web của Bộ Giáo Dục và Văn Hoá Phần Lan chỉ rõ: “Bộ Giáo Dục và Văn Hoá là cơ quan quyền lực cao nhất về giáo dục ở Phần Lan, chuyên giám sát các dịch vụ đào tạo và giáo dục công cộng được tài trợ bán phần, từ tiểu học và trung học và dạy nghề đến cao đẳng, đại học và giáo dục người lớn.” Và, “Bộ Giáo Dục và Văn Hoá và Hội đồng giáo dục quốc gia chịu trách nhiệm thực hiện chính sách giáo dục và quản lí hệ thống giáo dục ở cấp trung ương.” Quan trọng là: “Các đại học hoạt động dựa trên các nguyên tắc tự do và tự chủ về học thuật. Họ rất độc lập trong việc ra quyết định của họ. Chính phủ cung cấp khoảng 70% ngân sách cho các đại học”.

Rõ rằng đối với các đại học học Phần Lan thì Bộ Giáo Dục chỉ làm nhiệm vụ “trọng tài”, chứ không trực tiếp “đá bóng”. Nhiệm vụ của họ là cùng với Hội đồng giáo dục quốc gia xây dựng luật giáo dục đại học thật tốt và giám sát hoạt động của các đại học theo đúng luật đã được ban hành. Các đại học Phần Lan thì toàn quyền tự chủ và tự do đối với các quyết định học thuật của họ. Khái niệm tự chủ đại học được hiểu là “độc lập điều hành các hoạt động thường nhật và tự xây dựng các chương trình đào tạo.” Thực tế cho thấy Phần Lan đã thực hiện trao quyền tự chủ cho các đại học đúng như họ đã cam kết trên trang web của Bộ Giáo Dục, chứ họ không làm theo kiểu “nói một đàng, làm một nẻo hay làm nửa vời”! Phải chăng điều đó đã làm nên một nền giáo dục xuất sắc của Phần Lan, nơi mà giáo dục được xem là yếu tố quyết định cho sự phát triển?

Ở một số nước, cứ “tới hẹn” thì người ta “lại lên” và liệt kê ra những mục mà các đại học của họ được quyền tự chủ, theo xu hướng “năm sau tự chủ cao hơn năm trước”. Điều này đã trực tiếp khẳng định rằng các đại học ở các nước này không có sự tự chủ. Do đó, khi đã nói đến tự chủ đại học thì không thể nói “được làm cái này, được quyết định cái kia”, mà cơ quan quản lí cao nhất về giáo dục phải không được nhúng tay trực tiếp vào hoạt động của các đại học; cơ quan này đóng vai trò giám sát để các đại học hoạt động đúng luật.

Yếu tố mang tính quyết định từ sự tự chủ

Ở Phần Lan và các nước, sự tự chủ đem lại cho các đại học của họ một thuận lợi mang tính quyết định là họ xây dựng được đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu.

Khi có nhu cầu tuyển dụng thì họ thông báo công khai, ứng viên không phân biệt thành phần xã hội có thể nộp hồ sơ dự tuyển. Tuyển dụng cán bộ đối với họ là tuyển những người có năng lực cho công việc cần tuyển, họ không quan tâm đến tư tưởng hay quan điểm chính trị gì cả.

Xin làm giảng viên mà chỉ có bằng tiến sĩ, ngoài ra không có công trình nào trên các tập san quốc tế thì tốt nhất là không nên nộp hồ sơ. Ở một số nước, một người với bằng tiến sĩ hay thạc sĩ hay thậm chí cử nhân, không cần công trình gì cả, thì có thể có được vị trí vĩnh viễn ở các đại học sau khi vào “biên chế”.

Vấn đề quan trọng là việc tuyển chọn giáo sư. Ở Phần Lan và các nước, các đại học tự tuyển chọn giáo sư và tự quyết định chất lượng giáo sư của học dựa theo sự tư vấn của các chuyên gia quốc tế. Khái niệm giáo sư là khái niệm công việc; ở các đại học thì đó là những người có khả năng nghiên cứu, đào tào sau đại học và giảng dạy. Quá trình tuyển chọn giáo sư của họ là quá trình làm việc khoa học, theo đúng chuẩn mực quốc tế (ý kiến của chuyên gia ngoài trường hay quốc tế, phỏng vấn chuyên môn, kiểm tra năng lực giảng dạy,…), chứ không phải là quá trình “hành là chính” như  ở một số nước. Họ không xem giáo sư là một phẩm hàm hay danh xưng để hưởng thụ hay để đời, mà các giáo sư của họ phải làm việc rất cật lực để tồn tại với vị trí công việc mà họ xin được (chứ không phải được “phong hàm”) và khi về hưu thì coi như là rời chức giáo sư.

Mới đây, một bộ môn của Đại học Oulu đã có đề xuất giảm lương và tiến tới cắt hợp đồng (kiểu như cho ra khỏi “biên chế”) đối với những giáo sư có thành tích khoa học yếu kém trong thời gian dài. Cảnh giác trước tình trạng này, một bộ môn của Đại học Jyvaskyla chỉ ký hợp đồng có thời hạn 7 năm đối với những giáo sư mà họ mới tuyển gần đây.

Nếu một đại học được tự chủ thì phải có quyền tự xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy cho mình. Một đại học không có quyền tự chủ xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy thì còn có thể làm được gì hơn là “dạy chay, học chay”? Chất lượng của một đại học chỉ có thể tồn tại hay nâng lên nếu đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy của đại học này có thể được làm theo năng lực và hưởng theo thành quả lao động của họ (đương nhiên họ phải sống được bằng lương), hơn là “biên chế” theo kiểu quan liêu (không cần thành tích khoa học, chỉ cần họp và giơ tay là được tăng lương đều đều, nhưng có khi lại “không sống bằng lương”). Thật ra, khái niệm “biên chế” đã và đang giết chết đại học ở một số nước, vì nó không khuyến khích người ta phấn đấu trong nghiên cứu (yếu tố liên quan trực tiếp đến chất lượng đại học). Ví dụ, một thạc sĩ 25 tuổi hay một tiến sĩ 30 tuổi được vào “biên chế” chính thức một đại học thì cần 30 đến 35 năm sau mới thay thế được người này, dù cho họ không làm nghiên cứu gì cả sau khi đã có “biên chế” (chưa kể hậu quả của việc những người này có thể trở thành vật cản của những xu hướng tiết bộ – nguyên nhân của những tệ nạn ganh tỵ, bè phái và trù dập trong môi trường đại học). Trong khi đó, ở các nước, các đại học chỉ có hợp đồng ngắn hạn đối với những người mới khởi nghiệp, sau vài năm nếu không có kết quả nghiên cứu (dù dạy tốt hay giảng hay) thì ngưng hợp đồng và tuyển người mới; hợp đồng dài hạn hay “biên chế” chỉ có thể có đối với những nhà khoa học đã khẳng định được tên tuổi trên trường quốc tế.

Có ý kiến cho rằng “biên chế” là cách giữ người, không có “biên chế” thì không thể xây dựng đội ngũ hay không thể giữ chân được cán bộ. Thật ra, không nhất thiết phải như thế. Nếu đại học có quyền tự chủ thì ắt phải biết và ắt phải có cơ chế thu hút và tinh giản đội ngũ khi cần thiết. Nếu đã có quyền tự chủ thì các đại học không được cào bằng lương, phải trả lương theo năng lực để thu hút và giữ chân những người có năng lực. Thực tế một vài đại học ở một nước đang phát triển (thu nhập bình quân cở 2760 USD/năm) đã chấp nhận trả lương từ 12000 – 24000 USD/năm cho những tiến sĩ mới khởi nghiệp và những nhà khoa học thành danh có thể nhận mức lương 50000 – 60000 USD/năm; kết quả là họ đã xây dựng được đội ngũ theo mong muốn, mà nhân gian hay gọi là “hàng khủng”. Một ví dụ khá thú vị về cách giữ người: vừa rồi có một giáo sư của ĐH Oulu nộp đơn xin nơi khác (luật không cho phép các đại học ở Phần Lan can thiệp hay làm khó người có nguyện vọng ra đi), lập tức ông trưởng bộ môn mời giáo sư này lên để đề nghị tăng lương và giao thêm nhiệm vụ quan trọng vì vị giáo sư này thực sự có năng lực (có nhiều công trình và đã mang về cho bộ môn khoảng 2 triệu euros tiền đề tài), cách làm này chẳng khác gì nghệ thuật quản lí cầu thủ bóng đá và huấn luyện viên của các câu lạc bộ chuyên nghiệp nỗi tiếng như Real Madrid, Barcelona hay Chelsea. Tự chủ là thế! Họ có quyền quyết định mọi việc để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của họ.

Tự chủ sẽ dẫn đến tình trạng “cá mè một lứa”?

Ở Phần Lan, các đại học đã là “cá mè một lứa” nếu đã không có sự giám sát chặt chẽ và khoa học của Bộ Giáo Dục. Bộ không nhúng tay trực tiếp vào hoạt động của các đại học, nhưng nếu các đại học làm sai luật thì sẽ phải gánh lấy hậu quả – bị phạt nếu làm sai, hay bị giải thể hoặc bị sát nhập nếu yếu kém. Điều thú vị là Bộ Giáo Dục Phần Lan không ôm đồm hay làm thay việc của các đại học nên họ có nhiều thời gian và tâm trí để giám sát chặt chẽ hoạt động của các đại học.

Thật ra chính tình trạng các đại học không có quyền tự chủ đã vô tình tạo ra hiện tượng “cha chung không ai khóc” ( không thua kém tình trạng “cá mè một lứa”?) ở một số nước. Một khi cơ quan quản lí cao nhất về giáo dục nhúng tay vào hoạt động của các đại học thì cuối cùng nếu hiệu quả hoạt động của các đại học không cao thì sẽ dẫn tới tình trạng “không biết trách nhiệm thuộc về ai”. Phải chăng đây là hậu quả của việc “vừa đá bóng, vừa thổi còi”?

Về chương trình học, các đại học tự lựa chọn và xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, nhưng phải đảm bảo đúng số tín chỉ theo quy định của luật. Các đại học cung cấp các chương trình “đúng luật” nhưng nội dung và lực lượng giảng dạy yếu kém thì sẽ bị sinh viên và xã hội tẩy chay. Các nhà tuyển dụng của Phần Lan không chỉ nhìn vào bằng cấp để tuyển dụng mà hầu hết là họ tự thẩm định người mà họ muốn tuyển thông qua phỏng vấn trực tiếp. Do đó đại học nào cho ra những sinh viên kém chất lượng thì họ tự giết họ.

Về kinh phí thì các trường chỉ được chính phủ cấp khoảng 70%. Hàng năm các đại học phải nộp báo cáo tình hình hoạt động và thành quả về Bộ. Bộ căn cứ vào đó (đương nhiên có kiểm tra và đủ năng lực để kiểm tra) để quyết định việc cấp kinh phí cho những năm tiếp theo. Thành tích đào tạo và thành tích nghiên cứu khoa học là hai yếu tố quyết định số tiền tài trợ mà một đại học có thể nhận được từ chính phủ. Người viết đã có thực tế về vấn đề này! Vào tháng 12 mỗi năm, ông trưởng bộ môn gửi e-mail thúc giục mọi người phải khai báo về các thành tích khoa học trong năm (số công trình khoa học, số lần phản biện cho các tạp chí, số lần viết bình luận khoa học, hội nghị khoa học, số học viên cao học và nghiên cứu sinh đã bảo vệ,…); sau khi thư kí tổng hợp và gửi lại để mọi người kiểm tra thì những người không có thành tích gì về khoa học trong năm thường có cảm giác “rất đau khổ”.

Còn 30% kinh phí hoạt động thì các trường phải tự lo. Cần nhấn mạnh rằng giáo dục ở Phần Lan hoàn toàn miễn phí nên 30% này không phải có được từ học phí. Tiền từ những tổ chức hoặc cá nhân nhận bảo trợ cho trường, lợi nhuận từ các hoạt động chuyển giao khoa học và quan trọng là tiền từ những đề tài và dự án nghiên cứu do Viện hàn lâm và các quỹ tư nhân tài trợ sẽ bù đắp vào số tiến 30% còn lại. Ở các đại học Phần Lan, ai nhận được kinh phí tài trợ nghiên cứu ngoài trường thì thường được xem là “anh hùng” vì nó chẳng những mang tiền về cho trường (trường được hưởng tiền quản lí dự án) mà còn khẳng định chất lượng đào tạo của trường. Ngoài ra, nếu có tiền dự án thì chủ đề tài có thể tuyển nghiên cứu sinh (không có tiền dự án thì khó có hoặc không có nghiên cứu sinh nào chịu đăng kí làm nghiên cứu vì nghiên cứu sinh phải được trả lương) và cứ mỗi nghiên cứu sinh bảo vệ thành công thì chính phủ phải trả cho trường một số tiền khá lớn.

Ở một số nước, hình như người ta không mặn mà lắm đối với việc xin kinh phí nghiên cứu ngoài trường. Tiền tài trợ thì giới hạn, mà lại còn phải chịu cảnh “hành là chính”. Những người được tiền đề tài chẳng những không được xem là “anh hùng” mà đôi khi còn bị ganh tỵ, đố kỵ và có thể bị “hành hạ” bởi những hủ tục hành chính “trời ơi, đất hỡi”. Nguyên nhân vì đâu? Phải chăng vì ở các nước này các đại học chưa được tự chủ và hoạt động khoa học chưa được xem trọng nên chưa chuyên nghiệp (thực tế ở những nơi này, người ta chỉ xem nghiên cứu khoa học là “phong trào”).

Những thông tin trên cho thấy không thể có hiện tượng “cá mè một lứa” trong các đại học Phần Lan một khi chúng được trao quyền tự chủ và được Bộ Giáo Dục giám sát chặt chẽ. Điều thú vị là các đại học Phần Lan không cần “kêu gọi phong trào nghiên cứu khoa học”, mà đối với họ: nghiên cứu hay là bị cắt hợp đồng để nhường chỗ cho những người có năng lực.

Như vậy, có “cá mè một lứa” hay không khi giao quyền tự chủ cho các đại học là tùy vào cách giám sát của cơ quan quản lí cao nhất về giáo dục. Cái hay của Bộ Giáo Dục Phần Lan là họ chỉ quản lí vĩ mô, quản lí chất lượng (đào tạo và nghiên cứu khoa học), chứ không ôm đồm công việc của các đại học. Một khi thành tích nghiên cứu khoa học ở các đại học được xem trọng và được đánh giá đúng mực theo các chuẩn mực quốc tế thì hiện tượng “cá mè một lứa”, nếu có, sẽ tự động chuyển mình thành “cá mè nhiều lứa”, tức các đại học tự động được phân tầng.

 

Liên minh Châu Âu (2006) khẳng định: “Các trường đại học sẽ không trở nên sáng tạo và không thể đáp ứng nhu cầu thay đổi nếu họ không có quyền tự chủ thật sự”. Đây có thể xem là kim chỉ nam cho công cuộc cải cách giáo dục ở các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển – tự chủ đại học và xem trọng nghiên cứu khoa học hay là tiếp tục tụt hậu?

TS. Lê Văn Út

*****************************

Báo Người Lao Động

GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC (*)

Chỉ “thổi còi” chứ không “đá bóng”

Thứ Sáu, 25/05/2012 22:00

Vấn đề cốt lõi để tạo ra sự thay đổi về bản chất của nền giáo dục đại học là tăng cường tính tự chủ cho các trường đại học. Đơn cử nền giáo dục đại học của Phần Lan – một trong các quốc gia có nền giáo dục đại học tốt nhất – để hiểu thêm về tính tự chủ đại học

Thông báo của Bộ Giáo dục và Văn hóa (GD-VH) Phần Lan chỉ rõ: “Bộ GD-VH và Hội đồng Giáo dục quốc gia chịu trách nhiệm thực hiện chính sách giáo dục và quản lý hệ thống giáo dục ở cấp trung ương” . Đối với các ĐH Phần Lan thì Bộ GD-VH chỉ làm nhiệm vụ “trọng tài” chứ không trực tiếp “đá bóng”. Nhiệm vụ của họ là cùng với Hội đồng Giáo dục quốc gia xây dựng Luật Giáo dục ĐH thật tốt và giám sát hoạt động của các ĐH theo đúng luật.

Yếu tố mang tính quyết định từ sự tự chủ

Ở Phần Lan và các nước, sự tự chủ đem lại cho các ĐH một thuận lợi mang tính quyết định là họ xây dựng được đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu.

Khi có nhu cầu tuyển dụng, họ thông báo công khai, ứng viên không phân biệt thành phần xã hội có thể nộp hồ sơ dự tuyển. Xin làm giảng viên mà chỉ có bằng tiến sĩ, ngoài ra, không có công trình nào trên các tập san khoa học quốc tế thì tốt nhất không nên nộp hồ sơ. 

Ở Phần Lan và các nước, các ĐH tự tuyển chọn giáo sư và tự quyết định chất lượng giáo sư dựa theo sự tư vấn của các chuyên gia quốc tế. Khái niệm giáo sư là khái niệm công việc; ở các ĐH thì đó là những người có khả năng nghiên cứu, đào tạo sau ĐH và giảng dạy.
Quá trình tuyển chọn giáo sư của họ là quá trình làm việc khoa học, theo đúng chuẩn mực quốc tế. Họ không xem giáo sư là một phẩm hàm hay danh xưng mà phải làm việc rất cật lực để tồn tại với vị trí đó (chứ không phải được “phong hàm” như ở Việt Nam) và khi về hưu thì coi như là rời chức giáo sư.

Một ĐH được tự chủ thì phải có quyền tự xây dựng đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy cho mình. Không có quyền đó thì còn có thể làm được gì hơn là “dạy chay, học chay”. Điều này khác hoàn toàn với chế độ “biên chế” đã và đang giết chết ĐH ở một số nước, vì nó không khuyến khích giảng viên phấn đấu trong nghiên cứu (yếu tố liên quan trực tiếp đến chất lượng ĐH).

Tự chủ sẽ dẫn đến tình trạng “cá mè một lứa”?

Ở Phần Lan, các ĐH sẽ “cá mè một lứa” nếu không có sự giám sát chặt chẽ và khoa học của Bộ GD-VH. Bộ không nhúng tay trực tiếp vào hoạt động của các ĐH nhưng nếu các ĐH làm sai luật thì phải chịu trách nhiệm.

Chính tình trạng các ĐH không có quyền tự chủ đã vô tình tạo ra hiện tượng “cha chung không ai khóc” (không thua kém tình trạng “cá mè một lứa”?) ở một số nước. Một khi cơ quan quản lý cao nhất về giáo dục nhúng tay vào hoạt động của các ĐH thì cuối cùng nếu hiệu quả hoạt động của các ĐH không cao thì sẽ dẫn tới tình trạng “không biết trách nhiệm thuộc về ai”. Đây là hậu quả của việc “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Về chương trình học, các ĐH tự lựa chọn và xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, nhưng phải đảm bảo đúng số tín chỉ theo quy định của luật. Các ĐH cung cấp các chương trình “đúng luật” nhưng nội dung và lực lượng giảng dạy yếu kém thì sẽ bị sinh viên và xã hội tẩy chay. Do đó ĐH nào cho ra lò những sinh viên kém chất lượng thì họ tự giết họ.

Nghiên cứu sinh cũng được trả lương

Về kinh phí, các trường chỉ được chính phủ cấp khoảng 70%. Hằng năm các ĐH phải nộp báo cáo tình hình hoạt động và thành quả về bộ. Bộ căn cứ vào đó (đương nhiên có kiểm tra) để quyết định việc cấp kinh phí cho những năm tiếp theo. Thành tích đào tạo và thành tích nghiên cứu khoa học là 2 yếu tố quyết định số tiền tài trợ mà một ĐH có thể nhận được từ chính phủ.

Còn 30% kinh phí hoạt động các trường phải tự lo. Cần nhấn mạnh rằng giáo dục ở Phần Lan hoàn toàn miễn phí nên 30% này không phải thu được từ học phí. Tiền từ những tổ chức hoặc cá nhân nhận bảo trợ cho trường, lợi nhuận từ các hoạt động chuyển giao khoa học và quan trọng là tiền từ những đề tài và dự án nghiên cứu do viện hàn lâm và các quỹ tư nhân tài trợ sẽ bù đắp vào số tiền 30% còn lại.
.
Ở các ĐH Phần Lan, ai nhận được kinh phí tài trợ nghiên cứu ngoài trường thì thường được xem là “anh hùng” vì chẳng những họ mang tiền về cho trường (trường được hưởng tiền quản lý dự án) mà còn khẳng định chất lượng đào tạo của trường. Ngoài ra, nếu có tiền dự án thì chủ đề tài mới có thể tuyển nghiên cứu sinh (vì nghiên cứu sinh cũng được trả lương) và cứ mỗi nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án thì chính phủ phải trả cho trường một số tiền khá lớn.

Một khi thành tích nghiên cứu khoa học ở các ĐH được xem trọng và được đánh giá theo các chuẩn mực quốc tế thì hiện tượng “cá mè một lứa”, nếu có, sẽ tự động chuyển mình thành “cá mè nhiều lứa”, tức các ĐH tự động được phân tầng.

Liên hiệp châu Âu (năm 2006) khẳng định: “Các trường ĐH sẽ không trở nên sáng tạo và không thể đáp ứng nhu cầu thay đổi nếu họ không có quyền tự chủ thật sự”. Đây là điều cần lưu ý trong công cuộc cải cách giáo dục ở các nước đang phát triển.

Kỳ tới: Đo lường nghiên cứu khoa học

TS LÊ VĂN ÚT

***********************************

Bài viết và trích dẫn trên báo Việt Nam: Xem

Tổng hợp bài viết và trích dẫn trên các báo: Xem

Tất cả bài viết và sưu tầm: Xem

Advertisements

1 Comment »

  1. 1
    utvle Says:

    GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
    Đo lường nghiên cứu khoa học

    Thứ Bảy, 26/05/2012 23:29
    Ngoài chất lượng đào tạo, yếu tố định hình thương hiệu của một đại học chính là nghiên cứu khoa học. Đây là hoạt động quan trọng nhất của đại học

    Có thể nói không ngoa rằng một trường đại học (ĐH) không có nghiên cứu khoa học thì chưa phải là một ĐH đúng nghĩa mà có lẽ chỉ là một trung tâm dạy nghề.

    Hoạt động quan trọng: Nghiên cứu khoa học

    Nghiên cứu khoa học, do đó, là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các ĐH đẳng cấp quốc tế. Tại những trường danh tiếng như CalTech, Harvard, ANU…, số nghiên cứu sinh nhiều hơn số sinh viên cấp cử nhân. Có 3 yếu tố định hình một ĐH đẳng cấp quốc tế là năng suất khoa học cao, tác động của nghiên cứu khoa học và xuất sắc trong nghiên cứu khoa học.

    Năng suất nghiên cứu khoa học. Chỉ tiêu này thường được phản ánh qua số bài báo công bố trên các tập san có hệ thống bình duyệt (peer-review). Bài báo khoa học không chỉ là một bản báo cáo về một công trình nghiên cứu mà còn là một đóng góp cho kho tàng tri thức của thế giới. Đại đa số ĐH trên thế giới dùng số bài báo trên các tập san trong thư mục ISI (Viện Thông tin Khoa học) làm thước đo về năng suất khoa học.

    Tác động của nghiên cứu khoa học. Tầm ảnh hưởng của công trình khoa học có thể đo lường qua chỉ số trích dẫn. Những công trình khoa học có tác động thường được đồng nghiệp trích dẫn nhiều lần. Theo thống kê, có trên 50% bài báo khoa học chưa bao giờ được trích dẫn. Ngoài ra, chỉ số trích dẫn trung bình (tính trên mỗi bài báo) có thể là một chỉ số phản ánh tác động của nghiên cứu khoa học.
    Nghiên cứu khoa học là hoạt động quan trọng nhất của trường đại học. Trong ảnh: Sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành trong giờ tin học _Ảnh: TẤN THẠNH
    Xuất sắc trong nghiên cứu khoa học. Chỉ số H đã và đang được sử dụng để đánh giá tính xuất sắc trong nghiên cứu. Ví dụ, nếu một trường ĐH có chỉ số H = 20 có nghĩa là trường này có 20 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn ít nhất là 20 lần. Ngày nay, các tập san khoa học danh tiếng như Nature, Science, Cell, PNAS… và các cơ quan quản lý khoa học ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc… đều sử dụng chỉ số H để làm cơ sở cho đề bạt, cấp tài trợ và đánh giá thành công của một nhà khoa học hay một nhóm nghiên cứu.

    Ngoài chỉ số H, số bài báo trong nhóm được trích dẫn nhiều lần (“Highly Cited Papers”, hay HCP) cũng có thể xem là một thước đo đáng tin cậy. Một công trình được xem là HCP nếu được trích dẫn trên 1.000 lần.

    Nâng tầm ĐH Việt Nam

    Hiện nay, nước ta đã có trên 400 trường ĐH-CĐ, một con số rất “ấn tượng”. Một số trường ĐH muốn có tên trong các bảng xếp hạng quốc tế thì phải có kết quả nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, không rõ bao nhiêu trường ĐH trong số trên thực sự có hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong thực tế, tổng số bài báo khoa học của Việt Nam trên các tập san quốc tế còn rất thấp. Xin được đưa ra các biện pháp dưới đây:

    Thứ nhất, cần phải hướng đến việc công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế hay đăng ký bằng sáng chế (patent) như là một tiêu chuẩn để đề bạt vào các chức danh khoa học. Ở các trường ĐH phương Tây và ngay cả trường ĐH của các nước trong vùng, số lượng và chất lượng bài báo khoa học là tiêu chuẩn số 1 trong việc xét đề bạt lên chức giảng sư hay giáo sư. Đối với cá nhân nhà khoa học, báo cáo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế là viên gạch xây dựng sự nghiệp khoa bảng. Ở nước ta, nhiều năm qua, tiêu chuẩn công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế vẫn chưa được công nhận đúng mức.

    Thứ hai, cần phải xem công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế là một chỉ tiêu để đánh giá (hay “nghiệm thu”?) các công trình nghiên cứu do Nhà nước tài trợ. Ở các nước tiên tiến, công bố các bài báo trên các tập san quốc tế chính là tiêu chuẩn số 1 để các cơ quan tài trợ xem xét cung cấp kinh phí nghiên cứu. Nhưng ở nước ta, các công trình nghiên cứu sau khi hoàn tất thường được nghiệm thu một cách khá hình thức. Có rất nhiều nghiên cứu với ngân sách hàng tỉ đồng được nghiệm thu và đánh giá là “đạt” hay “tốt” nhưng trong thực tế thì chưa có một bài báo nào trên trường quốc tế và do đó không xứng với số tiền đầu tư do người dân đóng góp.

    Thứ ba, cần phải khuyến khích các nghiên cứu sinh tiến sĩ công bố ít nhất một bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án. Nếu quy định này được thực hiện tốt, có thể kỳ vọng rằng sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế sẽ được nâng cao trong vài năm tới.
    Thứ tư, cần có chính sách đãi ngộ và tưởng thưởng các nhà khoa học trẻ có công trình công bố quốc tế. Ở một số ĐH tại các nước và vùng lãnh thổ như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông…, người ta thưởng khá nhiều tiền (lên đến hàng ngàn USD) cho các tác giả có công trình công bố trên các tập san quốc tế có uy tín.

    Sứ mệnh phục vụ xã hội
    Trường ĐH được ra đời với sứ mệnh phục vụ xã hội, đáp ứng nhu cầu tri thức của công chúng. Tri thức là một tài sản chung của con người mang tính phi biên giới.
    Thành ra, trách nhiệm của một ĐH đẳng cấp quốc tế không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề địa phương mà phải nhắm vào việc phụng sự những vấn đề đa chiều hơn, rộng lớn hơn và qua đó để góp phần đưa giáo dục ĐH thế giới lên một chiều cao mới.
    GS NGUYỄN VĂN TUẤN

    http://nld.com.vn/20120526112238532p0c1017/do-luong-nghien-cuu-khoa-hoc.htm


RSS Feed for this entry

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: