Đừng bao giờ tuyệt vọng

  1. Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng – Trịnh Công Sơn
  2. Từ người tị nạn trở thành giáo sư
  3. Chăn trâu, bán thuốc lá dạo, tị nạn cũng thành giáo sư
  4. Từ tù nhân trở thành nghệ sĩ ưu tú
  5. Từ giang hồ trở thành Phật tử
  6. Từ vực thẩm trở về với Phật

Đừng bao giờ tuyệt vọng

***

*** (1) ***

Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng Song – Trịnh Công Sơn

Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng
Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông
Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng
Em là tôi và tôi cũng là em.
Con diều bay mà linh hồn lạnh lẽo
Con diều rơi cho vực thẳm buồn thêm
Tôi là ai mà còn ghi dấu lệ
Tôi là ai mà còn trần gian thế
Tôi là ai, là ai, là ai?
Mà yêu quá đời này.

Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng
Nắng vàng phai như một nỗi đời riêng
Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng
Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh
Có đường xa và nắng chiều quạnh quẽ
Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu đêm

*** (2) ***

Từ người tị nạn trở thành giáo sư

Kỉ niệm 30 năm ở Úc

In Email
Thứ năm, 26 Tháng 1 2012 07:03
https://i2.wp.com/mydailyclarity.com/wp-content/uploads/2010/01/au-flag.pngHôm nay (26/1/2012) là ngày Quốc Khánh của Úc. Nhưng hôm nay còn là ngày kỉ niệm tôi đến Úc đúng 30 năm về trước. Cứ mỗi lần đến ngày này là tôi nhớ chuyện xưa, chuyện những ngày đầu tiên tôi đặt chân đến đất nước này …Hôm đó là ngày 26/1/1982. Ở Sydney, nhiệt độ lên đến 42 độ C. Úc đang vào mùa hè. Mới ra khỏi phi trường và qua hải quan, tôi đã thấy choáng với cái nóng. Phải nói là nóng hừng hực. Nhìn thấy người ta mặc quần short nhiều hơn là quần tây như mình. Đứng xếp hàng một hồi thì được nhân viên di trú “lùa” lên một cái xe bus (lúc đó là rất lớn với tôi). Nhóm chúng tôi chắc cũng độ 20 hay 30 người gì đó, chẳng ai biết mình đi đâu, nhưng chỉ biết là từ này mình hưởng tự do sau những ngày tháng cực khổ và đắng cay ở Thái Lan. Xe chạy bon bon trên đường, chẳng thấy thành phố hay nhà cao tầng đâu cả, mà chỉ toàn là nhà cửa bằng gạch đỏ. Nhà nào cũng có vẻ rộng rãi, tươm tất, và hầu như tất cả đều có sân cỏ phía trước. Tôi còn nhớ xe chạy dọc theo một con lộ rất đẹp, hai bên là cây cối um tùm, xanh tươi, sạch sẽ. Sau này tôi mới biết đó là con lộ Henry Lawson Drive (tên của một nhà thơ nổi tiếng người Úc). Sau độ 30 phút thì đến một khu nhà rất rộng tên là Cabramatta Hostel. Lúc đó, tôi còn chưa biết hostellà gì, vì hồi nào đến đó tôi chỉ nghe đến hotel, chứ có biết hostel là gì đâu.Cabramatta hostel nằm trên một cái đồi thuộc vùng Cabramatta, nơi mà sau này là “thủ đô” của người Việt ở Sydney. Hostel này có chừng 10 dãy nhà hai tầng. Mỗi dãy nhà có chừng 20 căn nhà. Người tị nạn và di dân khắp nơi trên thế giới được qui tụ ở đây một thời gian để học tiếng Anh và văn hoá Úc trước khi ra ngoài ổn định cuộc sống. Ngoài người Việt, Khmer, Lào ra, còn có người Nga, Ba Lan, Tiệp, Hungary, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v. Nhưng có lẽ đông nhất vẫn là người Việt. Tôi ở hostel này được 3 tháng và sau đó ra ngoài mướn nhà, xin việc, và … “chiến đấu” để tồn tại trên đất Úc.Ngày đầu tiên, tôi được cho 30 đôla Úc. Đó không phải là tiền của Chính phủ, mà tiền của Hội từ thiện St Vincent de Paul. Ngoài ra, tôi còn cho một cái phiếu để lãnh quần áo. Tôi đến Úc với 0 cent trong túi và đúng 2 bộ đồ. Cầm cái phiếu đi lãnh đồ, tôi tưởng là đồ mới, nhưng không phải. Đó là cái shop của Hội St Vincent de Paul, chuyên bán đồ cũ cho người nghèo (loại quần áo mà VN ta quen gọi là SIDA). Nói đồ cũ nhưng còn mới và đẹp với tôi lắm. Tôi được cho phép tha hồ chọn 3 bộ đồ (quần và áo) và một đôi giày (vì tôi đến Úc bằng đôi dép, dân vô sản chính hiệu!). Cho đến nay, tôi vẫn giữ 3 bộ đồ này làm kỉ niệm, còn đôi giày thì đành phải “chia tay” với nó vài năm sau. Đó cũng chính là lí do tại sao sau này tôi tích cực cho quần áo và cho tiền Hội St Vincent de Paul.Có quần áo rồi, đến lúc đi học tiếng Anh. Những ngày đầu tôi cũng ghi danh học tiếng Anh, nhưng không thích. Cách dạy tiếng Anh ở đây chủ yếu là để học viên có đủ kiến thức và chữ nghĩa để đi xin việc, chứ không để học. Ngày nào cũng “How are you”, “I am fine, thank you”, “I am looking for a jo”, v.v. làm tôi chán ngấy. Tôi chỉ học được một tuần thì bỏ lớp học. Tôi quyết tâm tự học. Để tự học, tôi phải có cuốn từ điển Anh – Anh, vì tôi quan niệm học tiếng Anh từ tiếng Anh thì dễ hơn. Thế là với 30 đôla trong túi, tôi đi xe điện ra Sydney (cách Cabramatta khoảng 40 cây số). Ôi, xe điện sao mà sang thế và chạy nhanh thế. Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Người quê lên thành ra sao, thì tôi y chang như thế. Cái gì cũng nhìn, cũng ngạc nhiên. Đến tiệm sách Dymock, tôi gặp anh nhân viên bán hàng và nói: I want to buy an Oxford dictionary (tôi muốn mua một cuốn từ điển Oxford). Tôi nghĩ xe Ford mình đọc là “pho”, vậy thì Oxford mình đọc là “Ox-pho”, nên tôi đọc là ócx-fo. Anh chàng bán sách chẳng hiểu tôi nói gì, nhưng tôi thì tự tin là muốn mua từ điển đó. Anh ta rất lịch sự, kiên nhẫn nghe tôi nói, nhưng chắc anh ấy chẳng hiểu gì, nên đề nghị tôi viết xuống giấy. OK, tôi viết xuống ngay: OXFORD. Anh ấy đọc xong rồi mới vỗ trán một cái và nói: Ah, Ocx-phớt. Nói xong, anh dạy tôi đọc chữ đó, và dặn tôi nhớ đọc như anh ấy, chứ đọc kiểu tôi chẳng ai hiểu đâu. Ôi, một bài học tiếng Anh nhớ đời. Không bao giờ chủ quan về tiếng Anh!  Anh bán hàng rất tử tế, anh dẫn tôi đến hàng từ điển, có hàng chục loại từ điển, và anh giảng giải công dụng của từng loại, rồi hỏi tôi vậy anh muốn mua cuốn nào? Thú thật, anh ta nói nhiều, chứ tôi có hiểu anh ấy nói gì đâu, chỉ nghe lõm bõm thôi. Cuối cùng thì tôi cũng mua được một cuốn vừa ý, tốn mất 15 đôla. Cuốn từ điển này vẫn còn trong tủ sách của tôi. Mỗi lần thấy nó, tôi nhớ đến câu chuyện phát âm Oxford.Ngày ngày tôi học tiếng Anh bằng cách đọc báo và xem tivi. Mỗi ngày tôi mua một tờ báo, đọc tin tức và bình luận. Chữ nào không biết tôi tra từ điển. Mỗi ngày có khi học được 1 chữ, nhưng học từ nguồn gốc, các biến thể và cách sử dụng của nó. Đến chiều, bật tivi xem người đọc tin họ đọc chữ đó ra sao, và tôi đọc lại. Có những chữ làm tôi bất ngờ. Chẳng hạn như Dymock, không phải đọc là Đi-mốck mà là Đi-míck. Có những chữ như allowance, tôi cũng học cách phát âm từ tivi. Nói chung, cách học này cần thời giờ, mà lúc đó thì thời giờ của tôi khá thoải mái. Tự học như thế cả 3 tháng trời, và cộng với vốn liếng từ trại tị nạn và tiếng Tây, tôi thấy mình cũng đủ “vũ khí” để đi xin việc làm. Xin việc làm lúc đó rất quan trọng, vì chẳng những cho mình, mà còn lo cho bên nhà. Nhưng dạo đó, kinh tế Úc đang trong thời kì suy thoái, nên rất khó tìm việc làm. Khó thì khó, nhưng mình phải quyết tâm. Việc gì cũng làm, miễn là có việc làm để kiếm tiền.

Sau vài tuần cực khổ tôi tìm được việc làm. Cực khổ ở đây có nghĩa là ngày nào cũng lội bộ (lúc đó đâu có xe) hàng chục cây số trong cái nắng chói chang để gõ cửa các hãng xưởng xin việc. Cuối cùng thì tôi tìm được việc phụ bếp (tiếng Anh gọi là kitchen hand) ở bệnh viện St Vincent’s. Nhà bếp rất lớn, có đến hơn 30 nhân viên, phục vụ cho cả ngàn bệnh nhân mỗi ngày. Menu và món ăn rất phức tạp, và có thể thay đổi hàng ngày. Nhiệm vụ chính của tôi là lột cũ hành tây và rửa nồi niêu xoong chảo. Hôm đầu vào việc, anh chàng sếp nhà bếp phụ trách khu phục vụ tên là Jerry dẫn tôi đến một bao cũ hành tây thật là lớn, lớn đến nổi từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến giờ tôi chưa bao giờ thấy bao nào bự như thế. Tôi hơi hoảng và hỏi: Tao phải lột hết củ hành trong bao này à? Jerry nhún vai nói: Thì đó là việc của mày mà! Mà, đúng là việc của tôi thật. Vậy mà mình ngây thơ còn hỏi!

Hai hôm đầu, ngày nào tôi cũng chảy nước mắt. Không phải nhớ nhà hay tủi thân gì cả, mà là hành tây làm cay mắt. Thế mà chỉ vài ngày sau, tôi biết được bí quyết không làm mình “khóc” nữa, và tôi lại yêu công việc của mình. Nguyên tắc của nhà bếp là không ai đứng xớ rớ mà không làm gì; ai cũng phải làm. Do đó, khi xong việc của mình thì phải tự tìm việc khác mà làm. Việc khác có thể là lau chùi khu mình làm cho sạch sẽ hơn hay phụ người khác. Những lúc rảnh rổi (rất hiếm hoi), tôi mon men đến anh chàng bếp trưởng (chief cook) hỏi xem anh ta có việc gì cho mình không. Anh ta giao cho tôi xào thịt bò sơ sơ, để anh ta nấu. Ui chao, lần đầu tiên thấy cả tấn thịt bò, tôi phát ngán. Ở cái nhà bếp này, cái gì cũng nhiều và lớn. Ở đây, làm là “làm thật”, hiểu theo nghĩa làm đúng giờ. Buổi sáng có tea break (giải lao) đúng 15 phút, buổi ăn trưa gói gọn trong vòng 30 phút, buổi chiều cũng có giải lao 15 phút. Trước giờ và sau khi xong giải lao, nhân viên đưa cái thẻ của mình vào cái máy tính giờ; nếu mình giải lao hay ăn trưa quá giờ thì sẽ bị trừ lương theo thời lượng “lấn” sang giờ làm việc. Vì máy tính, nên không có chuyện tranh cãi ở đây. Nhìn phong cách làm việc này, tôi mới hiểu về “tác phong công nghiệp” có nghĩa là gì, và thấy ở Việt Nam làm việc quá thoải mái.

Nói là “nhà bếp”, nhưng khâu an toàn và vệ sinh ở đó thì không chê được. Tất cả dụng cụ nhà bếp đều được sắp xếp thứ tự, đâu ra đó. An toàn được xem là nguyên tắc số 1. Tuần nào cũng có thanh tra an toàn vào kiểm tra. Ngày nào cũng có nhân viên kiểm tra chất lượng (quality control) đến để xem xét thức ăn.   Tất cả nhân viên nhà bếp rất ngán mấy anh chàng thanh tra. Họ đến bất cứ lúc nào, và không báo trước. Họ xem qua nhà bếp có an toàn không, dụng cụ nhà bếp có để đúng chỗ không, nước nóng có an toàn, v.v. Chỗ nào mà không an toàn thì anh sếp bị đem ra cảnh cáo, thậm chí mất việc. Sợ nhất là anh chàng cầm cái nhiệt kế. Khi xe chở thức ăn cho bệnh nhân ra cầu thang, anh ta chỉ việc đưa cái nhiệt kế vào một món ăn một cách ngẫu nhiên, nếu nhiệt độ không đủ nóng, tất cả sẽ phải làm lại! Không có tha thứ và nhân nhượng. Ngay cả bà giám đốc nhà bếp cũng ngán mấy anh thanh tra này.

Tôi làm ở nhà bếp này gần 1 năm. Một năm đó cho tôi những bài học về kỉ luật lao động, an toàn lao động, và nhất là thấu hiểu cái cực khổ của người làm việc tay chân. Những đồng nghiệp kitchen hand của tôi (khoảng 10 người) toàn là dân tị nạn. Họ là dân Đông Âu cũ, một số từ Trung Quốc, và tôi là người Việt Nam duy nhất ở đây. Tất cả họ đều là những người thành đạt ở quê nhà họ (có anh chàng là bác sĩ, vài ba anh chàng kĩ sư, luật sư, thậm chí nhà báo). Tất cả đều xếp quá khứ và vui vẻ với công việc. Riêng tôi thì vui lắm vì có tiền mua sắm xe hơi, mua máy hát, mua sách (hồi đó tôi mê sách lắm), và gửi về nhà. Những lúc sau một ngày làm việc mệt nhoài, tôi nghĩ chẳng lẽ cuộc đời mình sẽ ở nhà bếp này mãi hay sao. Làm được vài tháng thì tôi xin đi học lại. Câu chuyện xin đi học và phỏng vấn là một kỉ niệm khác sẽ kể sau khi có dịp. Sau này, tôi xin làm ca ban đêm để đi học ban ngày, nhưng thấy oải quá, nên thay đổi xin làm ban ngày và học ban đêm (part-time). Ngày nào cũng 11 pm mới về đến nhà. Những ngày tháng đó rất ư là bận rộn, nhưng hình như tôi chẳng quan tâm đến bận rộn.

Cuộc đời là một cõi đi về. Gần 10 năm sau, tôi quay về bệnh viện St Vincent’s. Tôi vẫn không quên đồng nghiệp mình, nên ngày đầu tiên về bệnh viện cũ, tôi ghé thăm các bạn nhà bếp. Những người bạn cũ của tôi già đi nhiều (tôi lúc đó vẫn còn trẻ, nhưng vài năm nữa là cũng 40 tuổi). Gặp nhau tay bắt mặt mừng, họ hỏi tôi bây giờ mày làm ở đâu và làm gì, tôi chỉ tay sang cái building bên kia đường Victoria và nói tao làm ở đó nhưng tôi không nói làm gì. Gần 20 năm sau, tôi trở thành professor, và ngày được đại học chính thức tiến phong, ông giáo sư viện trưởng mới phát hiện tôi từng làm phụ bếp ở đây.  Số là người làm PR cho Viện muốn làm một phỏng vấn tôi sau khi nghe tôi xuất thân là refugee và cũng từng làm kitchen hand ngay tại bệnh viện này trước đây (đó là những chất liệu tốt cho PR), nhưng tôi từ chối. Bà PR quay sang nói cho ông Viện trưởng biết chuyện, chứ ông ấy chẳng bao giờ quan tâm hỏi han chuyện cá nhân hay đọc CV, mà CV thì cũng không có mục đó vì chỉ liệt kê chức vụ 10 năm gần nhất mà thôi. Ông ấy tỏ vẻ rất thú vị và hỏi tôi về hành trình từ người refugee đến nay, tôi chỉ nói rằng cuộc đời của mỗi người Việt Nam thế hệ tôi là một pho sử, tôi không thể nói trong vòng vài phút được. Ông ấy trầm ngâm một lúc rồi nói: So, welcome back!

Không ai bước vào một dòng sông 2 lần – người ta nói như thế. Mọi việc đều đổi thay trong 30 năm qua. Ba mươi năm trước, một lít xăng chỉ tốn 20 cent, ngày nay là 1.4 đôla.  Ba mươi năm trước, một căn nhà 3 phòng tốn chừng 50 ngàn đôla; ngày nay thì 500 ngàn đôla. Ngày ấy, đường xá còn vắng, còn bây giờ thì kẹt xe hàng ngày. Thời tiết cũng đổi thay.  Ngày 26/1/1982, nhiệt độ như tôi nói trên là 42 độ C, nhưng ngày 26/1/2012 thì trời mưa tầm tã, mưa đến nổi ban tổ chức ngày Quốc khánh Úc phải huỷ bỏ một số kế hoạch ăn mừng. Thật ra, năm nay ở Sydney không có mùa hè đúng nghĩa. Cá nhân tôi chắc cũng có thay đổi.  Thay đổi hiển nhiên nhất là … già đi và có phần khó tính hơn. 🙂 Tôi thường nói đùa chắc tại mình thấy thời gian còn lại không nhiều, nên việc gì người dưới cấp mình làm chậm là tôi dễ nổi nóng. Nói vậy chứ tôi vẫn nhớ đến tỉ số thiền để điều chỉnh tính tình mình.

Cứ mỗi lần đến ngày 26/1 tôi lại nghĩ đến những ngày tháng đầu tiên trên đất Úc. Thời đó, rất ít người Việt, nên tất cả chỉ là tự học hỏi lẫn nhau. Còn bây giờ thì người Việt mới định cư ở Úc có nhiều thuận lợi hơn vì đã có đồng hương hay bà con chỉ dẫn đường đi nước bước. Theo thống kê, hiện nay đã có gần 300 ngàn người Việt ở Úc.  Sau 30 năm, một thế hệ mới người Việt ở Úc đã ra đời và trưởng thành. Trong số này có con cháu tôi. Thế hệ này không hề biết (hay chỉ biết chút chút) về những ngày bĩ cực của thế hệ tôi trên đất Úc ra sao, vì chúng nó đang hưởng “quả” mà cha ông chúng gieo trước đây. Chúng nghe chuyện cũ mà tưởng là chuyện cổ tích.  Phần lớn thế hệ này đều tốt nghiệp đại học, có người thành danh, và nói tiếng Anh như người bản xứ, chứ đâu phải như tôi ngày xưa. Vì vậy, nhìn lại chặng đường đã qua, tôi phải nói lời cám ơn nước Úc, nơi đã cưu mang tôi trong thời kì khó khăn nhất. Chẳng những cưu mang mà còn cho mình cơ hội để học hành và đóng góp cho quê hương mình (dĩ nhiên là cũng có đóng góp cho Úc). Tôi là người phê bình Úc nhiều nhất (có khi nặng nề), nhưng tôi vẫn thương yêu đất nước này như tôi thương yêu quê nhà VN mình.  Dù mang quốc tịch Úc và mang passport Úc, nhưng lạ thay, tôi không bao giờ nghĩ mình là người Úc. Bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, bất cứ ai hỏi tôi đến từ đâu hay dân tộc gì, tôi đều nói Việt Nam.

NVT

http://nguyenvantuan.net/misc/9-misc/1418-ki-niem-30-nam-o-uc-

Đọc thêm về GS. Nguyễn Văn Tuấn: wiki

*** (3) ***

Cậu bé bán thuốc lá dạo ở VN trở thành nhà khoa học tài giỏi ở Mỹ

Một nhà khoa học thành danh ở Mỹ với nhiều công trình nghiên cứu và hằng trăm bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế xuất thân từ một cậu bé bán thuốc lá dạo ở chợ Gò Vấp, Sài Gòn. Câu chuyện của Giáo sư-Tiến sĩ Hóa học Trương Nguyện Thành hiện đang giảng dạy tại trường đại học Utah, Hoa Kỳ, là niềm hãnh diện của người Việt trên trường quốc tế và là tấm gương đáng khâm phục để giới trẻ Việt Nam noi theo.

Giáo sư Trương Nguyện Thành chụp tại Viện Khoa Học-Công Nghệ-Thông Tin ở Sài Gòn

Năm 11 tuổi, cậu bé Thành đã bắt đầu bươn chải, dãi dầu mưa nắng để kiếm tiền phụ mẹ nuôi 9 anh chị em sau khi cha mình bị liệt bán thân. Ngày ngày, sau giờ tan trường từ giữa trưa đến tận 9, 10 giờ đêm, cậu bé rong ruổi với thùng thuốc lá trên vai đi bán dạo quanh bến xe lam chợ Gò Vấp. Năm 1976, khi Việt Nam mở chiến dịch đưa cư dân ra các vùng kinh tế mới xa xôi, hẻo lánh, gia đình Thành chuyển xuống Lái Thiêu xoay sở tậu được một miếng ruộng nhỏ và một cặp trâu. Ở tuổi 15, Thành bỏ nghề bán thuốc lá dạo để chuyển sang đi cày thuê cuốc mướn. Việc học của cậu bé bị cản trở và chi phối rất nhiều bởi công cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày, nhưng ý chí quyết tâm theo đuổi con đường học vấn để đổi đời đã vun đúc trong lòng cậu bé từ rất sớm.

Tiến sĩ Thành chia sẻ:

“Tôi có tư duy thích học, những lúc rảnh rỗi, tôi thường lấy sách đọc. Chỉ có môn toán là tôi học được vì không đòi hỏi tập trung nhiều. Cứ rảnh là tôi ngó qua một cái rồi để cái đầu tôi làm việc. Tôi được sự dạy dỗ của ông nội và ba tôi. Họ thường khuyên rằng học vấn là con đường ngắn nhất để đưa một người không có gì tới thành công.”

Tới năm học lớp 12, con đường học vấn của cậu bé nghèo, lam lũ bắt đầu rẽ bước ngoặt, xuất phát từ một đáp án dí dỏm của Thành trước câu hỏi của thầy đố các học sinh giỏi. Ấn tượng trước sự thông minh của Thành, người thầy đã soạn đưa cho cậu bé một số sách để tham khảo.

Giáo sư Trương Nguyện Thành kể lại:

“Năm 1979, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức kỳ thi toán toàn quốc. Thầy tôi có đem mười mấy cuốn sách cho tôi mượn, bảo tôi đọc cho biết rồi tới dự lớp thầy dạy cho các học sinh giỏi dự thi toán. Tôi rất cảm động trước nghĩa cử này. Mỗi tối sau giờ làm ruộng, tôi đốt đèn dầu đọc sách từ 9 giờ tới 12 giờ đêm. Thời điểm đó, ở Việt Nam, hạnh kiểm là vấn đề khá quan trọng. Hạnh kiểm tôi tương đối xấu nên cô hiệu trưởng không cho tôi đi thi học sinh giỏi toán. Ông thầy lén đưa tôi đi theo đội tuyển, may quá tôi thi đậu. Tỉnh Bình Dương lúc đó chọn khoảng 30-40 em học sinh giỏi toán lên trên tỉnh học chuyên toán trong 3 tháng. Sau 3 tháng, họ tuyển lại lấy 5 em. Tôi cũng may mắn lọt vào trong 5 em đó. Cũng vì thế, ba tôi nhận ra rằng tôi có tiềm năng. Từ lúc đó, ông khuyên tôi nên nghỉ đừng đi cày thêm mà tập trung học. Và từ đó, ông tìm cách cho tôi ra nước ngoài.”

19 tuổi, sau khi thi đậu vào đại học Bách Khoa, chàng thanh niên Trương Nguyện Thành vượt biên sang Mỹ. Sau 1 năm ở trung học với những khó khăn bước đầu về ngôn ngữ, anh từ giã gia đình bảo trợ người Mỹ để bắt đầu cuộc sống tự lập ngay từ năm thứ nhất đại học. Để trang trải sinh hoạt phí trong thời đèn sách, phần đông các bạn trẻ ở đây thường phụ việc ở nhà hàng, tiệm giặt ủi, hay đi giao báo. Riêng trường hợp của Thành, anh tìm đến một người thầy và xin được theo chân làm việc trong phòng thí nghiệm để bắt đầu công việc nghiên cứu ngay từ năm đầu đại học, một công việc thường bắt đầu ở bậc cao học. Số tiền kiếm được đủ trang trải các khoản chi phí hết sức tiết kiệm hằng ngày. Còn học phí của anh chủ yếu nhờ các khoản vay từ nguồn quỹ dành cho sinh viên và các phần học bổng của chính phủ. Sau 4 năm đại học, anh ra trường với bằng cử nhân hóa học cùng với 4 văn bằng phụ về lý, toán, công nghệ thông tin, và thống kê.

Tốt nghiệp đại học, anh đi thẳng vào chương trình tiến sĩ. Trong thời gian nghiên cứu hậu tiến sĩ, anh dành được học bổng của Qũy Khoa học Quốc gia dành cho các tiến sĩ trẻ có tiềm năng vì lúc tốt nghiệp tiến sĩ, anh đã có 16 bài nghiên cứu trong khi trung bình một tiến sĩ khi ra trường xuất bản chừng 4-5 bài nghiên cứu. Năm 1992, anh về làm Giáo sư hóa cho trường đại học Utah. Một năm sau, anh được chọn là 1 trong những nhà khoa học trẻ nhiều triển vọng của Hoa Kỳ, với giải thưởng 500 ngàn đô la cho công tác nghiên cứu. Năm 2002, anh được cấp bằng Giáo sư Cao cấp, tức bậc cao nhất trong 3 cấp Giáo sư của Mỹ.

Những yếu tố nào giúp một cậu bé lam lũ, nghèo khó từng bán thuốc lá dạo, cày thuê cuốc mướn ở đáy xã hội Việt Nam lột xác, đổi đời thành một nhà khoa học danh tiếng tại Mỹ?

Giáo sư-Tiến sĩ Trương Nguyện Thành cho biết:

“Người đó có tiềm năng trời phú. Thứ hai, có môi trường giúp họ phát triển. Thứ ba, người đó có nhận thức được rằng mình có cơ hội đó hay không.

Tiềm năng chỉ là khả năng, muốn đạt được thành công đòi hỏi phải có môi trường để phát triển. Môi trường không cho phép người đó phát triển, thì cũng không làm được. Điển hình là người Việt ở Mỹ hay ở nước ngoài thành công rất cao, thế nhưng tại sao ngay tại Việt Nam không có những ngôi sao như vậy?

Khi tôi bước chân vào trung học ở Mỹ, có một cậu vượt biên cũng giống trường hợp như tôi, đi một mình, được một gia đình Mỹ bảo lãnh. Cậu ta cũng ở gần nhà tôi. Khi tới Mỹ, tôi và cậu ấy có cùng một cơ hội như nhau. Tôi cố gắng hơn, tôi vào đại học. Còn cậu ta làm việc cho một hãng gà Tây, kiếm tiền liền. Một năm sau, tôi về lại làng thăm ba mẹ nuôi và ghé thăm thằng bạn. Công việc nó làm chỉ đứng móc ruột gà Tây thôi, chờ con gà chạy qua, đưa tay vào móc ruột gà ra. Nó khoe với tôi nó có được chiếc xe hơi. Còn tôi lúc đó vẫn chưa có gì. Sau 4 năm đại học, tôi trở về, anh bạn vẫn còn móc ruột gà Tây. Anh đã có được một căn hộ, có TV lớn, dàn máy xịn, xe hơi sports. Còn tôi vẫn chỉ một thùng sách quèn. Sau 5, 6 năm sau, tôi trở về, cậu bạn vẫn còn làm chỗ cũ nhưng cho biết phải đổi nghề vì đau nhức xương khớp tay do làm việc ở phòng lạnh. Lúc đó, tôi sắp ra tiến sĩ. Đó là cái điều kiện thứ 3 mà tôi muốn nói: người có tiềm năng, có môi trường, mà không nhận thức được cơ hội của mình và quyết tâm đạt được cơ hội đó. Thật sự, tôi không có xe hơi, không có bạn gái, không có tình phí, ở nội trú, ăn mì gói. Cho nên, chi phí tôi rất ít. Tôi làm việc trong phòng nghiên cứu chỉ đủ sống. Tôi ra đại học trong túi chỉ có 200 đô la, nợ nhà nước khoảng 15 ngàn đô la (mỗi năm khoảng 3-4 ngàn tiền học phí cộng với tiền phụ thêm để sống), cùng một thùng sách và một giỏ quần áo cũ.”

Thành công ở xứ người, Giáo sư Thành trở lại Việt Nam, giúp thành lập Viện Khoa học Công nghệ Tính toán TP.HCM bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2009. Vừa tiếp tục giảng dạy tại trường đại học Utah ở Mỹ, vừa giúp điều hành Viện nghiên cứu tại Việt Nam, Viện trưởng Trương Nguyện Thành nói về công việc của mình:

“Điều khiển một viện nghiên cứu từ xa rất khó. Cho nên, có một viện trưởng tại Việt Nam chuyên lo các vấn đề hằng ngày như làm việc với chính phủ, hợp đồng, hay mướn người. Còn tôi phụ trách chiến lược phát triển về khoa học, kêu gọi những người khác về giúp phát triển.”

Ngoài ra, cá nhân ông còn nhận bảo trợ cho các sinh viên giỏi từ Việt Nam sang Mỹ du học bằng chính nguồn quỹ nghiên cứu của ông. Đích thân Giáo sư Thành đứng ra phỏng vấn tuyển chọn người tài, và từ năm 2001 tới nay, ông đã tài trợ cho trên dưới 20 sinh viên Việt Nam sang Mỹ học tập, nghiên cứu. Trong số này có nhiều người đã trở về giúp ông phát triển Viện nghiên cứu tại Việt Nam.

Tiến sĩ Trương Nguyện Thành tâm sự:

“Thời còn đi cày mướn, lời nguyền của tôi là nếu tôi thành công, tôi sẽ đem cơ hội đó cho lại những người khác. Đó là tâm nguyện của tôi lúc còn ở đáy xã hội Việt Nam. Tôi thường nói chuyện với học trò của tôi khi họ tới cảm ơn tôi đã cho họ cơ hội. Tôi bảo họ không cần cảm ơn tôi. Điều họ có thể trả ơn tôi là đem cơ hội đó cho một vài người khác. Chính vì vậy, một số đệ tử của tôi về lại Việt Nam, giúp tôi lập Viện. Tôi gieo những hạt giống và từ đó sẽ nhân thành những hạt giống khác. Một con én không làm nên nổi mùa xuân. Tôi chỉ là người mở đường. Những người khác bước chân theo, làm cho con đường rộng ra, nhẵn thêm, dễ đi hơn.”

Giáo sư Thành nói ai cũng mơ ước thành công, nhưng chỉ có những người chịu khó nỗ lực mới tới được đích đến:

Tôi chỉ có một lời nhắn nhủ với các sinh viên ở Việt Nam rằng trên đời cái gì cũng có giá phải trả. Nếu muốn thành công, phải chấp nhận trả cái giá đó. Thành công là một con đường đi chứ không phải là một điểm đích. Tôi không nói tôi đã thành đạt điều gì, chỉ là một con đường mà khi quay lại tôi thấy tôi đã đi được rất xa rồi.”

Con đường thành công của Giáo sư -Tiến sĩ Trương Nguyện Thành trải qua bao nhiêu năm gian nan, thử thách. Cậu bé bần cùng, lam lũ ở Việt Nam qua đến Mỹ cũng đã nếm trải bao nhiêu những thiếu thốn, khó nhọc để có được vị trí đáng nể như ngày hôm nay. Đó là nhờ sự quyết tâm vượt khó vươn lên, sẵn sàng trả giá cho con đường đã chọn.

Qúy vị và các bạn có những câu chuyện thành công muốn chia sẻ với các bạn trẻ Việt Nam qua Tạp chí Thanh Niên của đài VOA, email số phone về địa chỉ vietnamese@voanews.com, Trà Mi rất hân hạnh được giới thiệu những tấm gương thành công của người Việt khắp nơi.

Tạp chí Thanh Niên hẹn tái ngộ cùng quý vị và các bạn trong một câu chuyện mới vào giờ này, tuần sau. Rất mong được đón tiếp quý vị và các bạn hằng tuần trên làn sóng phát thanh của đài VOA và trên trang web voatiengviet.com, trong phần Chuyên mục đặc biệt, ngay trang chính.

http://www.voanews.com/vietnamese/news/from-a-cigarette-peddler-to-a-well-known-scientist-138741834.html

*** (4) ***

Từ tù nhân thành nghệ sĩ ưu tú

Chánh Tín kể chuyện bị “lôi” từ trong tù ra đóng phim

09/04/2012 08:54:41
(Kienthuc.net.vn) – Ngôi nhà gia đình NSƯT Nguyễn Chánh Tín ở nằm sâu trong khu cư xá Bắc Hải, quận 10, TPHCM. Bước sang tuổi 60, nhưng vẻ lịch lãm của “Đại tá Nguyễn Thành Luân” với phong cách người Sài Gòn vẫn còn nguyên vẹn trong anh, đặc biệt là nụ cười vẫn tươi mãi theo năm tháng…

Cái duyên với vai  “Đại tá”

Trước năm 1975, Nguyễn Chánh Tín nổi tiếng là một ca sĩ được nhiều fan hâm mộ. Rồi cái duyên đến với nghiệp diễn của Chánh Tín cũng tình cờ. Anh kể: “Sau giải phóng cuộc sống khốn khó. Tôi từng đi bán rau muống, bán thơm, sửa xe đạp kiếm tiền nuôi vợ con. Rồi tôi đi hát ở tỉnh lẻ, không đủ nuôi cơm ngày hai bữa cho gia đình”. Năm 1982, vượt biên không thành anh bị giam trong trại. Lúc đó, tinh thần anh suy sụp và nghĩ “thế là tiêu đời”.
Duyên nghiệp thế nào mà lúc ấy bộ phim Ván Bài Lật Ngửa đang tìm vai diễn viên chính. “Rất nhiều diễn viên được lựa chọn nhưng cũng không xong, ông Sáu Thảo (tức Dương Đình Thảo, là Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin bấy giờ) chợt nhớ ra: Còn một thằng đang trong trại nữa, hy vọng nó đóng vai này được, cho nó ra đóng phim chuộc tội.
Nhiều người e dè vì biết tôi đang ở trại giam, ông Sáu Thảo quả quyết: Tôi sẽ bảo lãnh nó ra trại để giao nhiệm vụ. Ông Sáu Thảo vào trại gặp tôi. Ông hỏi: Chú còn vượt biên nữa không? Tôi than với ông: Em vượt biên chẳng qua vì cuộc sống gia đình cực quá! Ông đã bảo lãnh cho tôi ra tù để nhận vai diễn”.

May mà thời đó làm phim đen trắng
Với vai nhân vật lịch sử này là một áp lực đối với Chánh Tín, đại tá Phạm Ngọc Thảo là một sĩ quan có bản lĩnh chính trị và tài ngoại giao rất sắc sảo. Ông là người có nhiều ảnh hưởng lớn đến cục diện chiến tranh và là thành viên chủ chốt trong 2 cuộc đảo chính bất thành vào những năm 1964 – 1965. Đã hơn một lần Chánh Tín nghĩ cách từ chối vai diễn nhưng lại không nỡ phụ lòng mong mỏi của những người đã tin tưởng vào anh. Hơn nữa, nghĩ đi nghĩ lại thì đây cũng là một cơ hội hiếm hoi cho anh làm lại từ đầu.

Kể từ khi gật đầu nhận vai, anh lao vào đọc kịch bản, tìm tư liệu về nhân vật với tất cả tâm huyết của mình. “Tôi không quản thời gian đi tìm tài liệu về nhân vật và tìm gặp những cán bộ lãnh đạo công an tìm hiểu tác phong, tính cách của người cán bộ tình báo để nhập vai – Nguyễn Chánh Tín nhớ lại. Khi được xem những tư liệu về bác Phạm Ngọc Thảo, tôi đã hình dung được một hình ảnh xuyên suốt để nhập vai.
Tôi nghĩ, người sĩ quan nằm vùng thì đương nhiên bên ngoài nhìn phải giống người Sài Gòn chứ nhìn ra người cộng sản thì lộ ngay. Phải thể hiện tinh thần, tâm hồn người cộng sản, nhưng tác phong đi đứng, cách ăn nói là phong thái của người Sài Gòn cũ, cũng may cái phong thái phải thể hiện là người Sài Gòn thì tố chất của tôi lại có tất cả điều đó”.
Nhiều đêm trăn trở với vai diễn, có khi nghĩ ra một cử chỉ, giọng điệu nào là bật dậy tập  hoặc ghi vào sổ để khỏi quên. Có lần đang đêm chợt nhớ trong kịch bản có cảnh Nguyễn Thành Luân bước ra khỏi chiếc xe Traction Citroen chậm rãi hút thuốc, tôi bật dậy tập đi tập lại.
Tham gia vai diễn, tôi gần như phó thác trách nhiệm gia đình cho bà xã. Biết chồng đam mê nên Bích Trâm thông cảm sẻ chia nhiều. Anh nhớ lại: “Vai diễn đó tôi gắn bó nhiều nhất với cái áo choàng và cái nón nỉ, nó mang phong cách tầng lớp thượng lưu thời đó. Lúc ấy, đến cái ăn còn không đủ thì lấy đâu tiền mua áo choàng hay nón nỉ. Cuối cùng, áo choàng được thay thế bằng chiếc áo mưa cũ của quân đội Mỹ, cái nón nỉ, tôi phải đi thuê”. Nụ cười hóm hỉnh còn nguyên vẹn trên môi người nghệ sĩ: “May mà thời đó làm phim đen trắng chứ quay màu như bây giờ là “bể” hết”.
Có thể nói Nguyễn Thành Luân là một vai lớn đối với điện ảnh Việt Nam bấy giờ, làm sống lại cả một thời kỳ lịch sử, lại được thực hiện trong một giai đoạn khó khăn nhất của đất nước. Đoàn làm phim quay trong thời gian hơn 5 năm với muôn vàn khó khăn, thiếu thốn.
“Cơm nước ăn như bộ đội, diễn viên, đạo diễn, chuyên viên kỹ thuật đều chuyên trị rau luộc, canh toàn nước và chén mắm kho hay chút cá khô mặn. Nước mắm không có mà ăn, phải lấy nước muối pha màu”, Nguyễn Chanh Tín nhớ lại.

“Xin chào đại tá Nguyễn Thành Luân”

Hạnh phúc vô cùng khi vai diễn với tất cả tâm huyết của anh đã in sâu đậm trong lòng khán giả. Nguyễn Chánh Tín xúc động kể: “Một lần cùng đoàn nghệ sĩ đến phà Gianh, Quảng Bình, gặp bão nên bị kẹt phà, cả ngàn xe xếp hàng rồng rắn. Đột nhiên có người phát hiện ra Chánh Tín trong đoàn nghệ sĩ. Thế là tất cả các xe đều nhường xe chở Chánh Tín qua phà. Một bác tài cố với người ra khỏi xe “Xin chào đại tá Nguyễn Thành Luân”.
Đời một nghệ sĩ như tôi chưa bao giờ được như thế. Bao chuyện dở khóc, dở cười. Đi đến đâu tôi cũng phải che kín mặt, đeo kính đen, ngủ chỗ nào phải vô ra như hoạt động bí mật. Có lần tại sân vận động Pleiku, hàng ngàn khán giả chen lấn xô đẩy vào xem chương trình có tôi tham gia, cánh cửa sắt sân vận động đổ sập…”.
NSƯT Nguyễn Chánh Tín vui vì đã làm trọn bổn phận với gia đình, với sự nghiệp diễn viên điện ảnh, một vai diễn lớn để đời với anh là quá đủ. Khi chuyển qua làm nhà sản xuất, anh vẫn hừng hực bầu nhiệt huyết trên phim trường. Bao dự định tiếp tục cống hiến cho điện ảnh nước nhà còn phía trước…
“Ván bài lật ngửa” là bộ phim đen trắng dài 8 tập, kịch bản của Nguyễn Trường Thiên Lý, được hãng phim Giải Phóng sản xuất từ năm 1982-1987, được coi là đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam sau ngày giải phóng miền Nam. Nhân vật đại tá Nguyễn Thành Luân do Nguyễn Chánh Tín thủ vai đã đưa anh từ một ca sĩ trở thành một diễn viên điện ảnh nổi tiếng suốt mấy chục năm qua.
Quỳnh Hương
*** (5) ***

Từ giang hồ trở thành Phật tử

*** (6) ***

Từ vực thẩm trở về với Phật

***********************************

Bài viết và trích dẫn trên báo Việt Nam: Xem

Tất cả bài viết và sưu tầm: Xem

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: