Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam

Bản thu gọn đã được đăng trên Khoa học & Đời Sống Online: Trông Nga, Australia, nền khoa học Việt Nam ngẫm gì?

Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam

”Những vấn đề các nhà khoa học Nga phàn nàn là vấn đề lương bổng cho giới khoa học quá thấp, tham nhũng trong tài trợ cho nghiên cứu khoa học, thiếu chuẩn mực để đánh giá nghiên cứu khoa học, và can thiệp của cơ quan an ninh.

Úc không có những vấn đề mà các nhà khoa học Nga phàn nàn. Nhưng các nhà khoa học Úc phàn nàn nhiều về vấn đề ngân sách nghiên cứu khoa học.

Những bất cập về việc tài trợ cho nghiên cứu khoa học ở nước ta rất giống với những gì các nhà khoa học Nga phàn nàn. Những vấn đề nổi cộm ở nước ta là (a) lương bổng bất hợp lí, (b) hệ thống bình duyệt để cấp tài trợ còn nhiều bất cập, và (c) thiếu chuẩn mực trong việc đánh giá và quản lí công trình khoa học.”

Nền khoa học của Nga hiện tại hơn hẳn Úc?

Trong bài “Đánh giá sự trưởng thành của một nền khoa học” (Tia Sáng, 14/01/2012), giáo sư Nguyễn Văn Hiệu (viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga, nguyên chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) có phát biểu: “Tôi biết rõ một quốc gia vào thời kỳ mà quốc gia đó nằm trong top 5 nước hàng đầu thế giới về khoa học nhưng chỉ có rất ít bài đăng trên hai tạp chí nói trên (Nature và Science – NV), và trong 10 năm qua chưa nằm trong top 10 nước có nhiều công bố trên hai tạp chí nói trên nhưng dứt khoát hiện nay đang có nền khoa học hơn hẳn nước Úc mà tôi cũng biết khá rõ: đó là nước Nga”.

Ảnh: Bee.net.vn

 

Ý kiến của GS. Nguyễn Văn Hiệu rất đáng quan tâm. Đặc biệt, giữa Nga và Việt Nam có nhiều sự tương đồng trong quá khứ, vì trong một thời gian dài hệ thống khoa học Việt Nam theo mô hình của Liên Xô cũ. Hiện tại ở Việt Nam, nhiều người có học hàm, học vị cao đang giữ nhiều vị trí quan trọng tại các cơ quan quản lí, các cơ quan nghiên cứu và đào tạo của đất nước đã từng được đào tạo tại Liên Xô cũ. Do đó việc phân tích sâu thêm về nhận định trên của GS. Nguyễn Văn Hiệu là thực sự hữu ích cho khoa học Việt Nam.

Câu hỏi đặt ra là: “Nền khoa học của nước Úc có thực sự yếu hơn của nước Nga hay không?” Đây là một câu hỏi rất khó trả lời. Tuy nhiên, nếu các các nhà khoa học tầm cỡ thế giới và các du học sinh có triển vọng đứng trước sự lựa chọn Úc hay Nga, thì có lẽ họ sẽ chọn Úc (một thống kê gần đây cho thấy số lượng du học sinh Việt Nam ở Úc là 25.000, trong khi đó ở Nga chỉ có 5.000 – theo Báo Giáo Dục TP.HCM ngày 15.1.2012). Đương nhiên lý do chính không hẳn Úc là nước sử dụng tiếng Anh.

Việc so sánh sự mạnh yếu giữa các nền khoa học là vấn đề rất khó, dễ bị cảm tính. Thật không đơn giản để có cái nhìn toàn cục về vấn đề này. Tuy nhiên, những con số có khi “biết nói”.

Để hiểu rõ hơn về thực lực khoa học giữa Nga và Úc, bài viết xin thống kê vài chỉ số liên quan đến thành tựu khoa học và thành tựu kinh tế của hai nước. Cuối cùng là phần trích dẫn ý kiến của các nhà khoa học thực sự hiểu về nền khoa học của nước họ (Nga, Úc). Thông tin này sẽ có ích cho khoa học Việt Nam với ước mơ vươn lên tầm khu vực và ra thế giới.

Người viết xin đưa ra những số liệu thống kê sau: dân số (nguồn BBC), tổng số công trình quốc tế trên tạp chí ISI và trên Nature và Science (nguồn ISI Web of Knowledge), số giải Nobel (tính theo quốc tịch, nguồn nobelprize.org), bằng sáng chế Mỹ (nguồn uspto.gov), xếp hạng cạnh tranh toàn cầu về kinh tế 2011-2012 (nguồn weforum.org) và thu nhập bình quân (nguồn BBC).

Chỉ tiêu Nga Úc
Dân số (triệu) 142,8 21,5
Công trình ISI 307.352 438.955
Công trình Nature, Science 302 1.260
Giải Nobel 3 4
Bằng sáng chế (Mỹ) 1.958 11.350
Xếp hạng cạnh tranh kinh tế 66 20
Thu nhập bình quân (USD) 9.900 43.590

(Dữ liệu được truy xuất vào ngày 16.1.2012 đối với 10 năm gần nhất 2002 – 2011, trừ xếp hạng cạnh tranh toàn cầu về kinh tế. Đối với bằng sáng chế Mỹ, người viết dùng dữ liệu 10 năm 2001- 2010)

Bảng xếp hạng cho thấy đối với tất cả các chỉ số, Úc đều vượt trội hơn Nga, dù dân số của Úc chỉ gần bằng 1/6.6 lần dân số Nga. Điều này cho thấy việc khẳng định nền khoa học của Nga mạnh hơn Úc có lẽ không vững cho lắm!

Ý kiến của các nhà khoa học Nga và Úc

Để có cái nhìn khách quan hơn về bức tranh nền khoa học của hai nước Úc và Nga, phần còn lại bài viết xin trích giới thiệu một số nhận xét tiêu biểu của các nhà khoa học Nga về chính nền khoa học của họ và bài phỏng vấn với GS. Nguyễn Văn Tuấn, nhà khoa học có nhiều năm kinh nghiệm sống và làm khoa học tại Úc.

Trong bài “Khoa học Nga: Các nhà khoa học nói gì?” trên tạp chí lừng danh Nature, GS. Alexander Sobolev, nhà địa hóa học thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga và cũng là viện sĩ của Viện này, than phiền: “Theo công ty phân tích trích dẫn Thomson Scientific, Nga là thứ mười tám trong số các nước xếp hạng bằng cách tích chỉ số trích dẫn đối với các công bố khoa học trong 10 năm qua. Đó không chỉ là hậu quả của kinh phí tổng thể dành cho cho nghiên cứu thấp, mà còn vì việc quản lý đối với khoa học cơ bản vẫn còn dựa trên các khái niệm về một xã hội khép kín, với một chính quyền tập trung được thừa hưởng thành quả của thời Liên Xô. Điều này dẫn đến sự vắng mặt của đánh giá quốc tế và sự thiếu động lực cho các nhà khoa học trong việc tạo ra các kết quả khoa học đẳng cấp quốc tế.”

 

 

Ngoài ra, GS. Mikhail Feigelman, phó viện trưởng Viện Vật lý lý thuyết Landau thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga, thẳng thừng chỉ ra 5 vấn đề lớn mà việc nghiên cứu cơ bản ở Nga đang đối mặt: “Một là lương cho các nhà khoa học còn quá thấp – lương cơ bản của một giáo sư tại một viện nghiên cứu ở Moscow chỉ bằng 1/3 thu nhập bình quân trong thành phố này. Hai là sự vô trách nhiệm đối với việc phân phối kinh phí nghiên cứu – kinh phí nghiên cứu thường không dành cho các ngành khoa học thực tiễn. Ba là người đứng đầu Viện hàn lâm khoa học Nga đã không thể thực hiện các cãi cách mang tính lâu dài đối với Viện. Bốn là các quan chức chính phủ phụ trách xây dựng lại cơ sở hạ tầng khoa học thường là những người bất tài. Năm là các mật vụ liên bang đã cáo buộc nhiều nhà khoa học Nga làm gián điệp, với những bằng chứng nguỵ tạo.”

 

Các ý kiến trên được đăng tải vào năm 2007. Tuy nhiên, người viết đã có trao đổi trực tiếp và qua email với hai nhà khoa học hiện làm việc tại các viện nghiên cứu thuộc Viện hàn lâm Nga (trong đó có một người là lãnh đạo của một viện nghiên cứu khá lớn). Họ đã khẳng định rằng bài viết trên Nature vẫn còn đúng cho đến thời điểm này.

Quay sang Úc, người viết có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Văn Tuấn, Viện nghiên cứu Y khoa Garvan và Khoa Y thuộc ĐH New South Wales, về vấn đề này và được ông cho biết như sau:

TS. Lê Văn Út: Ông nghĩ gì về bảng thống kê trên? Theo ông, nền khoa học của Úc hiện tại mạnh hơn Nga, hay ngược lại?

GS. Nguyễn Văn Tuấn: Tôi thấy những dữ liệu trên rất thú vị và có ích. Tôi sống ở Úc cũng lâu, nhưng ít khi nào có dịp so sánh khoa học của Úc với các nước khác, và đây là lần đầu tiên tôi thấy những con số phản ảnh một phần nào hoạt động khoa học giữa hai nước Nga và Úc. Những dữ liệu này cho thấy một cách khách quan rằng nền khoa học Úc tuy còn ”non trẻ” nhưng có phần trội hơn nền khoa học Nga. Tuy dân số Úc chỉ bằng 15% dân số Nga, nhưng số bài báo khoa học trên các tập san ISI cao hơn Nga 42%, trong đó số công trình trên NatureScience của Úc cao hơn Nga gấp 4 lần. Nên nhớ rằng đây là so sánh trong thời gian 10 năm qua, tức sau khi Nga đã trở thành một nước dân chủ, chủ động hội nhập quốc tế, và đã đầu tư hàng tỉ USD cho nghiên cứu khoa học.

 Cố nhiên, cũng không nên so sánh chỉ dưạ vào số ấn phẩm khoa học ISI. Vì vấn đề tiếng Anh nên các nhà khoa học Nga có thể gặp khó khăn trong công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san ISI mà phần lớn viết bằng tiếng Anh. Một chỉ số khác có lẽ khách quan hơn là số bằng sánh chế.  Số liệu trên cho thấy số bằng sáng chế của Úc cao hơn Nga gần 6 lần.

 Một cách so sánh khác là dựa vào chỉ số H. Trong bảng xếp hạng về khoa học của SJR (SCImago Journal and Country ranking), tính chung cho tất cả các ngành khoa học, thì Úc đứng hạng 11 (trong số 236 nước trên thế giới) với chỉ số H là 450, và Nga đứng hạng 12 với chỉ số H 285.  Tuy nhiên, có sự khác biệt trong từng lĩnh vực nghiên cứu.  Chẳng hạn như về toán học thì Nga (hạng 10) cao hơn Úc (hạng 13). Về vật lí, Nga đứng hạng 5 với chỉ số H 214, cao hơn Úc (hạng 18, với chỉ số H 146).  Nhưng trong lĩnh vực y khoa, Úc đứng hạng 10 (chỉ số H là 325), trong khi đó Nga đứng hạng 38 (chỉ số H 113).

Nói tóm lại, những con số này cho thấy rõ ràng rằng năng suất khoa học của Úc hơn hẳn Nga, và quan trọng hơn là những thành tựu nghiên cứu khoa học của Úc được chuyển giao sang ứng dụng (thể hiện qua bằng sáng chế) hơn thành tự ứng dụng của Nga.

TS. Lê Văn Út: Theo các ý kiến trích dẫn ở trên, các nhà khoa học Nga hiện đang làm việc tại Viện hàn lâm Nga phàn nàn khá nhiều về những bất cập trong môi trường khoa học Nga. Úc có đang gặp phải những bất cập trên không, thưa ông?

GS. Nguyễn Văn Tuấn: Những vấn đề các nhà khoa học Nga phàn nàn là vấn đề lương bổng cho giới khoa học quá thấp, tham nhũng trong tài trợ cho nghiên cứu khoa học, thiếu chuẩn mực để đánh giá nghiên cứu khoa học, và can thiệp của cơ quan an ninh.

Úc không có những vấn đề mà các nhà khoa học Nga phàn nàn. Nhưng các nhà khoa học Úc phàn nàn nhiều về vấn đề ngân sách nghiên cứu khoa học. Khoảng 10 năm trở lại đây, ngân sách dành cho khoa học của Úc càng ngày càng bị cắt giảm, một phần do kinh tế gặp khó khăn nhưng phần khác do sự ngu xuẩn và thiển cận của giới chính trị. Hệ quả là nhiều nhà khoa học Úc bỏ nước sang ”đầu quân” cho các nước lớn hơn như Mĩ và Anh.

Những bất cập của nền khoa học Việt Nam và hướng khắc phục

TS. Lê Văn Út: Là người thường xuyên có các hoạt động khoa học ở Việt Nam, xin ông vui lòng cho biết những bất cập của nền khoa học Việt Nam hiện tại là gì? Những bất cập này có giống với ở Nga không, thưa ông?

GS. Nguyễn Văn Tuấn: Những bất cập về việc tài trợ cho nghiên cứu khoa học ở nước ta rất giống với những gì các nhà khoa học Nga phàn nàn. Những vấn đề nổi cộm ở nước ta là (a) lương bổng bất hợp lí, (b) hệ thống bình duyệt để cấp tài trợ còn nhiều bất cập, và (c) thiếu chuẩn mực trong việc đánh giá và quản lí công trình khoa học.

Nếu ở Nga, lương một giáo sư thực thụ còn kém hơn thu nhập trung bình của người dân Moscow, thì ở Việt Nam, lương của một giáo sư có khi còn thấp hơn lương của một kĩ sư mới ra trường làm cho công ti nước ngoài. Ở Việt Nam, ít có nhà khoa học nào sống bằng đồng lương, họ phải bươn chãi tìm việc khác chẳng liên quan gì đến chuyên môn để kiếm thêm thu nhập. Ai cũng biết đồng lương cho nhà khoa học là bất hợp lí, nhưng cho đến nay hình như chẳng ai có hành động gì để khắc phục vấn đề.

Hệ thống bình duyệt cấp tài trợ cho nghiên cứu khoa học còn tồn tại rất nhiều vấn đề. Vấn đề lớn nhất là thiếu chuyên gia có trình độ chuyên môn đủ và có kinh nghiệm tốt để có thể thẩm định đề tài nghiên cứu một cách khách quan. Trong nhiều ”hội đồng phản biện”, có khi các chuyên gia phát biểu sai vì họ không hiểu vấn đề chuyên môn, hoặc chẳng có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học. Thật ra, có khi chính họ cũng chẳng hiểu họ nói gì! Gs Phạm Duy Hiển có lần tâm sự rằng ông rất sợ phải trình đề cương nghiên cứu của ông cho hội đồng khoa học mà trong đó chẳng ai biết ông làm gì và đưa ra những nhận xét cảm tính và thiếu tính chuyên nghiệp. Đây là vấn đề lớn làm chùn bước rất rất nhiều nhà khoa học trẻ muốn làm nghiên cứu ở Việt Nam.

Có thể nói rằng ở Việt Nam thiếu những chuẩn mực khách quan để đánh giá nghiên cứu khoa học. Nhiều nghiên cứu mà ý tưởng chẳng có gì mới (kiểu ”mee too”) hoặc tính khả thi có vấn đề, nhưng vẫn được cấp tài trợ; ngược lại, có những nghiên cứu có khả năng đóng góp vào tri thức khoa học và thiết thực cho Việt Nam thì không được tài trợ. Ngay cả khâu nghiệm thu cũng có vấn đề về chuẩn mực. Người chủ trì đề tài chỉ đơn giản trình bày một báo cáo dài, có khi chẳng có công bố quốc tế nào (hoặc có nhưng chỉ trên một tạp chí địa phương không có bình duyệt) và xem đó là ”thành quả” của nghiên cứu! Đó không phải là chuẩn mực quốc tế.

Ở Việt Nam, các nhà khoa học rất sợ cơ quan quản lí khoa học. Họ sợ thủ tục hành chính mà nói theo dân gian là ”hành” là chính. Những thủ tục rườm rà, mà thoạt đầu tôi nghe qua tưởng như đùa, nhưng hoàn toàn có thật. Những thủ tục và qui định này tạo điều kiện cho các quan chức hành chính có cơ hội làm khó (nếu cần) – chứ không phải giúp đỡ — cho các nhà khoa học. Nhiều người nói rằng muốn có tài trợ cho nghiên cứu khoa học ở VN, các nhà khoa học phải ”bôi trơn” cho quan chức, nhưng tôi chưa thấy bằng chứng nào để nói như thế.

TS. Lê Văn Út: Theo ông, Việt Nam nên làm gì để khắc phục những bất cập trong nền khoa học mình?

GS. Nguyễn Văn Tuấn: Việt Nam cần làm rất nhiều để khắc phục những bất cập nêu trên. Trước mắt, tôi nghĩ đến 4 việc liên quan đến những vấn đề tôi vừa nêu:

Thứ nhất là phải cải cách chế độ lương bổng cho nhà khoa học. Nhà khoa học cần phải có thu nhập xứng đáng với trình độ chuyên môn và khả năng thực của họ. Cần phải thiết lập các chế độ khen thưởng cho các nhà khoa học có công trình xuất sắc trên các tập san quốc tế có ảnh hưởng cao. Tôi nghĩ đến việc thiết lập các chương trình fellowship để thu hút và nuôi dưỡng những nhà khoa học có thực tài, những người sẽ đóng vai trò lãnh đạo các nhóm nghiên cứu khoa học.

Thứ hai là phải cải cách hệ thống cung cấp tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Cải cách từ khâu tổ chức, đánh giá đề tài, đến quản lí. Về tổ chức, nên bỏ đi những hệ thống cấp Nhà nước và cấp bộ, và thay vào đó là một cơ chế tài trợ độc lập với các bộ nhưng do các nhà khoa học quản lí và điều hành. Cơ chế này có thể chỉ có 2 hội đồng tài trợ cho các nghiên cứu cơ bản (basic research) và nghiên cứu chuyển giao công nghệ (translation research). Ngân sách nghiên cứu sẽ do các bộ cung cấp, nhưng quyết định cấp duyệt đề tài sẽ do các nhà khoa học phụ trách. Ngoài ra, cần phải đa dạng hóa hình thức tài trợ. Không chỉ tài trợ cho nghiên cứu, mà còn phải tài trợ cho các cá nhân xuất sắc với định hướng tạo ra một thế hệ tiếp nối trong việc lãnh đạo khoa học.

Thứ ba là phải chấn chỉnh lại các hội đồng khoa học, cách đánh giá và quản lí. Phải dứt khoát loại bỏ những ”chuyên gia” không có trình độ chuyên môn trong các hội đồng khoa học, và thay vào đó những người có khả năng học thuật và kinh nghiệm thực tế được minh chứng qua các công trình đã công bố. Nếu cần, có thể mời chuyên gia nước ngoài tham gia các hội đồng khoa học. Về đánh giá đề tài nghiên cứu, cần phải dựa vào những chuẩn mực khách quan mà cộng đồng quốc tế công nhận. Về quản lí, phải làm cho thủ tục tinh giản hơn, chứ như hiện nay thì thủ tục chỉ ”hành” là chính và tạo cơ hội cho cửa quyền, nhũng nhiễu, hối lộ. Không nên bắt buộc nhà khoa học phải làm nghiệm thu giữa kì, và càng bỏ thủ tục nghiệm thu tốn kém như hiện nay. Thay vào đó là những chuẩn mực như công bố quốc tế, bằng sáng chế, đào tạo nghiên cứu sinh, v.v. Chỉ có các chuyên gia trong ngành mới đánh giá được thành tựu của nghiên cứu, và công bố quốc tế là một hình thức ”kiểm định acid” để tất cả đồng nghiệp quốc gia và quốc tế kiểm tra. Điều này đòi hỏi công bố quốc tế như là một chuẩn mực để ”nghiệm thu” đề tài nghiên cứu.

Thứ tư là tôi đề nghị Việt Nam nên lập ra một vài tập san khoa học bằng tiếng Anh, với chiều hướng đưa các tập san này vào hệ thống ISI. Hiện nay, chúng ta chưa có tập san khoa học nào viết bằng tiếng Anh mà được ISI công nhận. Trong thực tế, tôi nghĩ các nhà khoa học Việt Nam có khả năng lập ra vài tập san viết bằng tiếng Anh, có bình duyệt (peer review), với ban biên tập quốc tế, để trong vòng 2-3 năm đưa vào hệ thống ISI.

Tôi tin rằng những nỗ lực đề nghị trên sẽ góp phần phát huy tiềm năng của khoa học nước nhà, và có thể nâng cao khoa học Việt Nam trên trường quốc tế.

Người viết xin chân thành cảm ơn GS. Nguyễn Văn Tuấn.

***

TS. Lê Văn Út (ĐH Oulu, Phần Lan)

url: https://levanut.wordpress.com

Bài viết và trích dẫn trên báo Việt Nam: Xem

Tất cả bài viết và sưu tầm: Xem

 

Advertisements

11 Comments »

  1. 1
    Ẩn danh Says:

    Hello I am so excited I found your webpage, I really
    found you by mistake, while I was researching on Bing for something else,
    Regardless I am here now and would just like to say thanks a lot for
    a marvelous post and a all round enjoyable blog (I also
    love the theme/design), I don’t have time to browse it all
    at the moment but I have bookmarked it and also added in your RSS feeds, so when I have time I will be back to read much more, Please
    do keep up the superb b.
    ======================
    UVL: Thank you very much for your encouragement. Best wishes.

  2. […] nhiên, GS. Nguyễn Văn Tuấn (Úc) từng nhận xét rằng số bằng sáng chế là một tiêu chí khách quan để đánh giá nền khoa học của […]

  3. […] phải là tiêu chí duy nhất để đánh giá nghiên cứu của một đại học, xin xem thêm). Thử tra lại lần nữa thì thấy “Tampere University of Applied Sciences” có […]

  4. 4
    IDS: Khi trí thức…từ chức Says:

    IDS: Khi trí thức…từ chức

    Các thành viên IDS lần gặp cuối

    Xem ảnh các thành viên IDS, Blog HM nhận ra một người quen, rất kính trọng. Những năm 1977-1993, người viết bài từng là quân của Giáo sư Phan Đình Diệu (đứng thứ 2 từ trái), vị đầu ngành của Tin học Việt nam, từng là viện trưởng Viện Tin học, viện phó Viện KH Việt nam, một chí sỹ nhưng không phải đảng viên. HM đã chứng kiến vài lần từ chức của ông. Lần ở IDS này là lần thứ 3, dù ông không tuyên bố. Mỗi lần là một khoảng lặng của số phận.

    Lần thứ nhất

    Lần đầu vào năm 1985, do cơ chế Đảng lãnh đạo, Viện trưởng chấp hành, việc đưa ra những chiến lược phát triển công nghệ thông tin của Giáo sư với tầm nhìn xa trông rộng bị chặn lại. Chi bộ và đảng ủy có thể quyết định về tư tưởng nhưng không thể biểu quyết về tầm nhìn tương lai Tin học Việt nam. Thấy không thể “vùng vẫy” trong một hệ thống như thế nên Giáo sư đã từ chức, dù rất nhiều các vị lãnh đạo cao cấp đã yêu cầu ông tại vị. Tuy thế, ông vẫn là Viện phó VKHVN.

    Vị viện trưởng kế vị, tuy không là bí thư chi bộ như trước, nhưng lại có cơ chế mới “một thủ trưởng”, chi bộ chỉ để…tham khảo. Ông tha hồ áp dụng “tư duy” lãnh đạo mới.

    Lần thứ 2

    Tới năm 1993, có chuyện bầu bán lại ở Viện Tin học (được đổi tên là Viện CNTT). Đề cương thành lập viện cũng do Giáo sư Diệu và vài đồng nghiệp chấp bút. Vì tâm huyết với ngành CNTT non trẻ và mong đất nước thoát nghèo bằng tin học, Giáo sư Diệu quay về tham gia ứng cử Viện trưởng. Ông hiểu, ở vị trí nhất định mới mong thay đổi được diện mạo một ngành.

    Tổ chức phiếu thăm dò sau bao nhiêu “bàn tán hành lang” (sau này có dịp tôi sẽ kể vào lúc cần thiết), ông vẫn được 58 phiếu, người về thứ 2, kém chục phiếu gì đó. Không hiểu vì lý do gì mà Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện KHVN) lại quyết định người về “nhì”(đương kim Viện trưởng VTH) được làm Viện trưởng Viện CNTT.

    Nhớ lúc đó, Giáo sư Diệu phát biểu đại loại rằng, đây là một quyết định phi dân chủ, và người ra quyết định đã lật lọng, phá hoại khoa học. Ông tuyên bố từ chức luôn cả Viện Phó VKHVN và về vườn từ lúc hơn 50 tuổi.

    Đương nhiên, tôi không hiểu hết thế sự bên trong. Phía sau quyết định của Viện sỹ Hiệu là gì, không ai biết được. Có thể Viện sỹ đã hứa gì đó nhưng sau đó “lật lọng”, hoặc người khác có lý “gấp đôi”.

    Dù là con kiến nhưng tôi đã không ngần ngại nói “Lớp cán bộ khoa học trẻ vào Viện với tình yêu khoa học và tin vào các bậc đàn anh. Nhưng hôm nay, chứng kiến sự mất dân chủ và quyết định bất ngờ, tôi hiểu rằng, lòng tin của trí thức đã bị đặt nhầm chỗ”.

    Di sản khoa học…

    Nếu ai làm việc ở đâu đó thời gian dài, thường được hỏi về legacy (di sản) của người đó. Giáo sư Phan Đình Diệu cùng với đồng sự đã để lại nền vi tính non trẻ cho Việt nam (kể cả châu Á khi đó!) và thương hiệu Viện Tin học trước năm 1985.

    Hôm nay, có dịp qua Viện CNTT (Viện TH cũ) bạn sẽ thấy Viện này đã an bài như định mệnh của chính Viện KH Việt nam (nay đổi là Viện KH Công nghệ Quốc gia). Xuống dốc Bưởi nhìn thấy toà nhà bậc thang piramid, mốc meo với những điều hoà đủ kiểu và kiến trúc pha trộn Đông Tây trong Viện KHVN, như mối tình Chí Phèo-Thị Nở, khi tàn bạo trong vườn chuối, lúc lãng mạn dưới ánh trăng bên sông.

    Sau 30-40 năm hoạt động, “nhà trẻ trung ương” VKHVN với 5-6 nghìn cán bộ khoa học đã làm gì cho đất nước? Danh tiếng Viện CNTT đang ở đâu trên đất nước này. Có ai còn nghe tới họ, hay chỉ là những gì làm 25 năm trước mới đáng kể. Mà số tiền tiêu vào đó là bao nhiêu tỷ của dân nghèo.

    Mới đây, Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu được tặng Huân chương Nhà nước do cống hiến cho khoa học. GS Phan Đình Diệu lại “từ chức”…tiếp dù ông đã về hưu.

    Và lần thứ 3 ở…IDS

    Lần từ chức thứ nhất chỉ liên quan đến một viện và sự đi xuống của nó sau đó. Lần thứ hai tương đương với một bộ. Hình ảnh Viện “Hàn lâm” trên Nghĩa Đô hôm nay đủ nói lên những trí thức không được dùng đúng mục đích bị ảnh hưởng như thế nào tới vị thế của nền khoa học.

    Lần thứ 3 này phải chờ xem sau vụ tự giải thể của IDS. Ảnh hưởng của sự kiện là tầm quốc gia nếu không nói là quốc tế. Những người như bà Phạm Chi Lan, Giáo sư Hoàng Tụy, TS Lê Đăng Doanh, TS Nguyễn Quang A và các vị khác, … cả thế giới biết tên tuổi.

    Sự giải nghệ của họ và Quyết định 97 giúp tinh hoa dân tộc “yên lòng” hơn với tuổi hưu nhàn hạ. Họ khá đầy đủ về vật chất, nếu chỉ muốn yên ổn thì vào IDS làm gì. Vì nặng lòng với đất nước và dân nghèo, hy vọng IDS là nơi giúp chuyển tải những phản biện hay cố vấn của một tập thể trí thức tinh túy nhất nước tới Đảng và Nhà nước. Ai nghi ngờ lòng yêu nước của họ hãy xem lại bản thân.

    Không hiểu sao lại nghĩ vẩn vơ. Dù ở xa Tổ quốc, tôi luôn dự cảm rằng, đất nước rồi sẽ tiến lên, đi đâu sẽ ngẩng cao đầu, rằng, ta đến từ nơi dân giầu nước mạnh. Mong thì vẫn hằng mong.

    Lời kết

    Nhớ về câu chuyện của đất nước mình, từng là hình mẫu cho đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều người đã nhìn vào để noi gương. Tuy nhiên, ánh hào quang quá khứ không giúp được nhiều cho hội nhập hôm nay.

    Nơi tôi công tác trước đây cũng không nằm ngoài qui luật đó. Lật vài trang sử của Viện cũng đủ hiểu số phận một đất nước, một dân tộc hay một đời người.

    Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới, ai sẽ là bạn khi ta gặp khó khăn, chìa tay giúp đỡ, kẻ nào đợi thời cơ để hãm hại. Có nhiều trí thức giỏi, có tâm và tầm, sẽ giúp tìm ra được lời giải.

    Nhớ khi cụ Hồ sang Pháp thời kháng chiến, lúc quay về đã mang theo Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa và bao thanh niên hiểu biết. Chính giới tinh hoa đó đã đưa Việt Nam sang một vị thế khác.

    Ngày nay, nhiều trí thức rất giỏi nằm ngay ở trong nước. Để họ “từ chức” nghĩa là mất “nội lực”, và vì thế khó mong “ngoại lực” quay về, dù có trải thảm đỏ.

    IDS đã ra đi, không còn nghe được tiếng tơ lòng của họ. Người ta bảo, tiếng quát của kẻ thất phu không đáng sợ, đáng sợ hơn là sự im lặng của những nhà hiền triết.

    Hiệu Minh

    Clip IOIT (Viện CNTT) 30 năm kỷ niệm do tác giả quay và biên tập

    http://hieuminh.org/2009/09/17/ids-khi-tri-thuc-tu-chuc/

  5. […] Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam (Lê Văn Út). – 29000 tiến sĩ đến 2020?  (Nguyễn Văn Tuấn). “Trước đây, có […]

  6. […] này chắc tới Viện toán của Ngô Giáo sư để hỏi, sẽ có câu trả lời mà. – Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam (Lê Văn Út). – 29000 tiến sĩ đến 2020? (Nguyễn Văn Tuấn). “Trước đây, có […]

  7. […] này chắc tới Viện toán của Ngô Giáo sư để hỏi, sẽ có câu trả lời mà. – Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam (Lê Văn Út). – 29000 tiến sĩ đến 2020? (Nguyễn Văn Tuấn). “Trước đây, có […]

  8. […] Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam (Lê Văn Út). – 29000 tiến sĩ đến 2020? (Nguyễn Văn Tuấn). “Trước đây, có […]

  9. […] Nam) (Nguyễn Văn Tuấn).– Tại sao phải học tích phân? (Hồ Như Hiển). — Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam (Lê Văn Út). – 29000 tiến sĩ đến 2020?  (Nguyễn Văn Tuấn). -Sự lương […]

  10. […] Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam (Lê Văn Út). – 29000 tiến sĩ đến 2020?  (Nguyễn Văn Tuấn). “Trước đây, có […]

  11. […] Khoa học – nhìn từ Nga và Úc sang Việt Nam (Lê Văn Út). – 29000 tiến sĩ đến 2020?  (Nguyễn Văn Tuấn). “Trước đây, […]


RSS Feed for this entry

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: