Sinh thời vĩ nhân, tạ thế hung thần

Trong bài về nhân vật John Edgar Hoover trên RFI, có những chi tiết đáng suy ngẫm:
  • “…. để triệt hạ cánh chim đầu đàn của phong trào đòi quyền công dân …, … không ngần ngại liệt tổ chức này vào thành phần cực tả, và quy chụp các tội như khuynh đảo trật tự công cộng, phá hoại an ninh quốc gia.”
  • “… về già, … đọc cho các nhân viên cấp dưới ghi chép lại những kỷ niệm trong cuộc đời và sự nghiệp …. Điều đó có nghĩa là trước khi từ trần, … vẫn tiếp tục dàn dựng sự nghiệp của một đời người qua quyển Hồi ký chính thức, lưu lại cho hậu thế những chi tiết, giai thoại, sự kiện qua một sự sàng lọc kỹ càng.”
  • “… không ngần ngại luồn lách, tự đặt mình lên trên vòng pháp luật. Cứu cánh biện minh cho phương tiện : … lập ra một mạng lưới tình báo, lớn chưa từng thấy trong gần nửa thế kỷ điều hành. … có thể nghe lén điện thoại, âm mưu phá hoại các tổ chức dân sự, chống phong trào đòi quyền công dân của …. Những hồ sơ mật …. lập ra không chỉ nhắm vào các phần tử ‘‘nguy hiểm’’ mà còn liên quan đến đời tư của các gương mặt nổi tiếng hay nhân vật có quyền hành.”
  • “Một khi đã đạt tới thượng tầng, thì chẳng bao giờ … muốn rời bỏ quyền hành. Việc lập ra hàng loạt hồ sơ tối mật là một cách để … củng cố vị thế của mình, … có một điều nghịch lý …, đó là dù có nỗ lực cách mấy, … cũng không thể nào kiểm soát được hình ảnh … để lại.”
  • “Qua quyển hồi ký chính thức, … muốn tạo dựng cho mình hình ảnh của một anh hùng lịch sử …. sau khi xem  … ta cảm nhận được một điều: … không phải là một vĩ nhân mà lại giống như một hung thần sinh từ thời cuộc.”

J. Edgar Hoover : sinh thời vĩ nhân, tạ thế hung thần

Trong vòng gần nửa thế kỷ, từ 1924 cho đến 1972, John Edgar Hoover là giám đốc của Cục điều tra Liên bang Mỹ FBI. Nói cách khác, sinh thời, ông được xem là người có nhiều uy quyền nhất nước Mỹ. Nhưng đời tư của ông vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Qua bộ phim “J. Edgar”, đạo diễn kỳ cựu Clint Eastwood tìm cách giải mã hiện tượng Hoover.

Ngược dòng thời gian, chúng ta thử trở về năm 1972. Vào năm mà ông Hoover qua đời, thì diễn viên Clint Eastwood đang thành công trên màn ảnh lớn với loạt phim thám tử điều tra Dirty Harry. Vào thời đó, Clint Eastwood bị báo chí chỉ trích khá nhiều khi ông vào vai thám tử Harry Calahan, một nhân vật bất trị với giọng điệu ngông cuồng xấc xược, có những lời tuyên bố bị cho là phản động, không phải đạo về phụ nữ, về người da màu và giới đồng tính.

Nếu như vào thời điểm đó, bạn nói với mọi người rằng : 40 năm sau, diễn viên Clint Eastwod trở thành một trong những nhà đạo diễn lão luyện nhất nước Mỹ, và bộ phim mới của ông nói về đời tư cũng như định hướng đồng tính của ông trùm FBI. Hẳn chắc là vào lúc đó, chẳng có ai sẽ tin bạn. Nhưng qua sự đối chiếu này, ta có thể hiểu được một phần : động lực nào đã thôi thúc Eastwood quay một bộ phim về Hoover, vì hơn ai hết đạo diễn này thừa hiểu rằng sự khác biệt giữa bí mật đời tư và hình ảnh của một nhân vật công chúng là cả một trời một vực.

Bộ phim J. Edgar bắt đầu với màn quay toàn cảnh của tòa trụ sở FBI tại thủ đô Washington DC. Nhân vật Hoover (do Leonardo DiCaprio thủ vai) đang đọc một bài diễn văn với giọng điệu lạnh lùng để giải thích vì sao tổ chức SCLC (Southern Christian Leadership Conference) đe dọa trực tiếp đến nền an ninh quốc gia. Trong thực tế, tổ chức này do mục sư Tin lành Martin Luther King lãnh đạo, nhưng để triệt hạ cánh chim đầu đàn của phong trào đòi quyền công dân cho người Mỹ da đen, giám đốc FBI không ngần ngại liệt tổ chức này vào thành phần cực tả, và quy chụp các tội như khuynh đảo trật tự công cộng, phá hoại an ninh quốc gia.

Những màn quay kế tiếp cho thấy một nhân vật Hoover về già, ông đọc cho các nhân viên cấp dưới ghi chép lại những kỷ niệm trong cuộc đời và sự nghiệp của ông. Điều đó có nghĩa là trước khi từ trần, ông trùm FBI vẫn tiếp tục dàn dựng sự nghiệp của một đời người qua quyển Hồi ký chính thức, lưu lại cho hậu thế những chi tiết, giai thoại, sự kiện qua một sự sàng lọckỹ càng. Qua thủ pháp điện ảnh này, đạo diễn Eastwood làm một công hai chuyện : thứ nhất, ông phác họa tâm lý của nhân vật Hoover, một con người mà suốt đời muốn kiểm soát toàn bộ thế giới xung quanh mình. Thứ nhì, việc đọc hồi ký cho các nhân viên ghi chép là cơ hội để cho Eastwood tự do xuôi ngược dòng ký ức, dùng thủ thuật flashback để gợi lại quá khứ của ông Hoover mà không phải nhất thiết tuân theo trình tự thời gian.

Sinh trưởng tại Washington DC (1895-1972), John Edgar Hoover xuất thân từ một gia đình sùng đạo Chúa. Ông tốt nghiệp khoa luật trường Đại học George Washington, thi đỗ bằng thạc sĩ trước khi vào làm việc cho Bộ Tư pháp Mỹ. Trong thời gian đầu, ông làm trợ lý cho bộ trưởng Tư Pháp Thomas W. Gregory. Nhiệm vụ đầu tiên mà ông Hoover được giao phó là điều hành cơ quan BOI, chuyên trách việc đăng ký toàn bộ các di dân đến từ các quốc gia bị chính quyền Washington xếp vào hàng thù nghịch với nước Mỹ. Cơ quan này sau đó được ông Hoover chấn chỉnh lại và đổi tên thành Cục điều tra liên bang Mỹ FBI.

Vĩ nhân sinh từ thời cuộc ? Dù gì đi nữa, sự nghiệp của ông Hoover thăng tiến rất nhanh, một mặt nhờ vào cái tài điều hành, mặt khác nhờ vào cái bối cảnh chính trị bất ổn của nước Mỹ vào giữa thập niên 1920. Nhiều vụ tấn công nhắm vào các quan chức cao cấp, từ bộ trưởng đến thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Khai thác tâm lý hoảng sợ bất an, ông Hoover khi lên làm giám đốc FBI vào năm 29 tuổi (1924) muốn lập ra bộ phận lưu giữ dấu vân tay cũng như bảng số xe hơi mở rộng trên toàn quốc, thành lập một phòng xét nghiệm pháp y với những phương pháp khoa học tối tân hiện đại nhất thời bấy giờ, đào tạo một hàng ngũ nhân viên điều tra chuyên nghiệp. Mục tiêu là để truy tìm tội phạm một cách nhanh chóng nhất. Về điểm này, có thể nói là ông Hoover có một tầm nhìn xa khác thường, một trí thông minh xuất chúng.

Nhưng khôn chưa chắc gì đã ngoan. Trong ống kính của đạo diễn Eastwood, nhân vật Hoover, nhân danh chính nghĩa bảo vệ quyền lợi đồng bào hay lợi ích quốc gia, không ngần ngại luồn lách, tự đặt mình lên trên vòng pháp luật. Cứu cánh biện minh cho phương tiện : ông Hoover lập ra một mạng lưới tình báo, lớn chưa từng thấy trong gần nửa thế kỷ điều hành. Các nhân viên FBI có thể nghe lén điện thoại, âm mưu phá hoại các tổ chức dân sự, chống phong trào đòi quyền công dân của người da đen. Những hồ sơ mật mà ông lập ra không chỉ nhắm vào các phần tử ‘‘nguy hiểm’’ mà còn liên quan đến đời tư của các gương mặt nổi tiếng hay nhân vật có quyền hành. Điều đó đủ để làm cho 8 vị tổng thống từ Coolidge, Roosevelt đến Kennedy rồi Nixon phải kinh khiếp, nể sợ nhiều hơn là thán phục ông Hoover.

Khi lập hồ sơ tối mật về quan hệ ngoại tình của phu nhân tổng thống Roosevelt hay các mối tình vụng trộm dan díu của tổng thống Kennedy, theo cách nhìn của đạo diễn Eastwood, ông Hoover chỉ muốn biết chân tướng của đối phương, làm lộ tẩy của những kẻ có thể trở thành thù nghịch. Nó tựa như một lá chủ bài, một tấm bảo bối hộ thân để răn đe, phòng hờ sự trở mặt của các nhân vật có thế lực mạnh nhất nước Mỹ. Nhưng bản thân ông Hoover có gì mà phải che giấu ?

Về điểm này, đạo diễn Clint Eastwood chọn tâm lý của nhân vật nhiều hơn là định hướng đồng tính của ông Hoover làm trọng tâm, điểm nhấn. Nhà làm phim không dùng cách minh họa trực tiếp mà lại để cho khán giả tự mình rút ra kết luận trước những tình huống trong phim. Hai nhân vật quan trọng hàng đầu là thân mẫu của ông Hoover và phó giám đốc FBI ông Clyde Tolson, nhân vật này vừa là cánh tay phải đắc lực, vừa là người ‘‘bạn đời’’ của ông Hoover.

Bản thân ông trùm FBI không có quan hệ gần gũi với đàn bà. Người phụ nữ duy nhất trong đời được ông Hoover sung bái tôn kính chính là thân mẫu của ông. Trong phim, bà Anna Marie (do nữ diễn viên Judi Dench thủ vai), che chở săn sóc cho con trai đến nổi, ông Hoover suốt đời sẽ sống trong vạt áo của mẹ. Khi bà qua đời, cảnh phim cho thấy ông lấy quần áo cũ của người mẹ quá cố để mặc. Tầm ảnh hưởng của bà mẹ lớn đến mức không thể nào có một hình bóng ngời đàn bà nào khác trong tâm trí của ông Hoover.

Nhân vật thứ nhì là Clyde Tolson (do Armie Hammer thủ diễn). Hai người có quan hệ với nhau trong hơn 40 năm. Nhưng cho tới giờ này, do chưa có bằng chứng cụ thể, cho nên không ai có thể quả quyết được điều gì. Trong phim, đạo diễn Clint Eastwood thiên về giả thuyết đáng tin cậy nhất khi tạo dựng trên màn ảnh lớn mối tình giữa hai nhân vật Hoover và Tolson. Một cách chính thức, giám đốc FBI ngoài đời không có vợ vì ông đã ‘‘thành hôn’’ với nghề nghiệp. Nhưng theo cách đọc của đạo diễn Eastwood, nhân vật Hoover muốn che giấu định hướng giới tính của mình.

Mỗi lần xuất hiện trước công chúng, ông Hoover dàn dựng cảnh những người đẹp xuất hiện bên cạnh ông như Shirley Temple, Ginger Rogers. Có một thời báo chí nhắc nhở đến nhiều mối tình giữa ông Hoover với nữ diễn viên Dorothy Lamour. Mặt khác, ông Hoover tìm cách đánh lạc hướng dư luận vì ông là người đầu tiên ủng hộ việc trấn áp giới đồng tính. Vào thời ông nắm quyền lãnh đạo FBI, hàng trăm người đồng tính làm việc cho cơ quan nhà nước Mỹ đã bị sa thải. Ông cũng đã ra nhiều quy định khắt khe nghiêm ngặt đối với toàn bộ các nhân viên FBI. Nhưng phần lớn cũng vì ông không muốn ai biết được những bí mật về bản thân ông. Nếu để lộ thì có lẽ uy tín cũng như cơ nghiệp của ông trùm FBI coi như là tiêu tan.

Nhìn chung, bộ phim J. Edgar của Clint Eastwood xoáy vào nội tâm của nhân vật Hoover nhiều hơn là tiết lộ bí mật đời tư của ông. Theo góc nhìn của nhà đạo diễn, Hoover chỉ quan tâm đến quyền lực, theo sự thúc giục của thân mẫu. Thời còn nhỏ, ông bị tật nói lắp, để làm hài lòng người mẹ, ông sẽ học cách chữa chứng cà lâm. Cũng vì người mẹ mà ông chối bỏ định hướng giới tính của mình, và để chiều lòng thân mẫu, từng bước một, ông đi lên theo đà thăng tiến xã hội.

Về quan hệ đồng tính giữa hai nhân vật Hoover và Tolson, theo cách nhìn của Eastwood thì đó là một mối tình đơn phương. Bởi vì đạo diễn này quan niệm rằng đối với một người ở trên tột đỉnh quyền lực như ông Hoover, thì không có cách nào khác là phải cô đơn, hiểu theo nghĩa không chia sẻ quyền hành, không để lộ nhược điểm, không thể tin tưởng bất kỳ ai. Quyền lực trở thành nỗi ám ảnh của một đời người, tình cảm riêng tư chỉ là tiểu tiết. Qua cách phác họa này, nhân vật của Hoover trở nên khá lạnh lùng tàn nhẫn.

Ngay từ những hình ảnh đầu, đạo diễn Eastwood đã cài thông điệp chính mà ông muốn gửi gấm đến người xem, đối chiếu những hình ảnh dàn dựng nhằm tuyên truyền về một nhân vật của công chúng với những bí mật đời tư chôn vùi giấu kín. Do là một người luôn có tâm lý bất an, cho nên trong mắt của Hoover; cả thế giới xung quanh ông lúc nào cũng tiềm tàng ẩn chứa những mối đe doạ. Nhân vật Hoover tự tạo cho mình một vương quốc riêng, nơi ông ngự trị trên đỉnh cao trong gần 50 năm, một thế giới mà ông nắm toàn bộ quyền kiểm soát, từ mỗi chi tiết điều hành cho đến cung cách làm việc của nhân viên cấp dưới.

Một khi đã đạt tới thượng tầng, thì chẳng bao giờ Hoover muốn rời bỏ quyền hành. Việc lập ra hàng loạt hồ sơ tối mật là một cách để cho ông củng cố vị thế của mình, bởi vì tất cả các vị tổng thống đều là chủ nhân tạm thời của Nhà Trắng, trong khi ông mới chính là hiện thân trường tồn của quyền hành tối cao. Nhưng có một điều nghịch lý mà đạo diễn Eastwood muốn nói lên, đó là dù có nỗ lực cách mấy, ông Hoover cũng không thể nào kiểm soát được hình ảnh do ông để lại.

Qua quyển hồi ký chính thức, ông Hoover muốn tạo dựng cho mình hình ảnh của một anh hùng lịch sử nước Mỹ. Lúc sinh tiền, ông từng chiếm ba lần trang bìa tạp chí Time và đứng hạng nhì trên danh sach các nhân vật được dư luận Mỹ yêu qúy nhất. Nhưng khi xem phim của Eastwood, ta cảm nhận được một điều : Hoover không phải là một vĩ nhân mà lại giống như một hung thần sinh từ thời cuộc.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20120120-jedgar-hoover-hung-than-sinh-tu-thoi-cuoc

Advertisements

4 Comments »

  1. 1
    IDS: Khi trí thức…từ chức Says:

    IDS: Khi trí thức…từ chức

    Các thành viên IDS lần gặp cuối

    Xem ảnh các thành viên IDS, Blog HM nhận ra một người quen, rất kính trọng. Những năm 1977-1993, người viết bài từng là quân của Giáo sư Phan Đình Diệu (đứng thứ 2 từ trái), vị đầu ngành của Tin học Việt nam, từng là viện trưởng Viện Tin học, viện phó Viện KH Việt nam, một chí sỹ nhưng không phải đảng viên. HM đã chứng kiến vài lần từ chức của ông. Lần ở IDS này là lần thứ 3, dù ông không tuyên bố. Mỗi lần là một khoảng lặng của số phận.

    Lần thứ nhất

    Lần đầu vào năm 1985, do cơ chế Đảng lãnh đạo, Viện trưởng chấp hành, việc đưa ra những chiến lược phát triển công nghệ thông tin của Giáo sư với tầm nhìn xa trông rộng bị chặn lại. Chi bộ và đảng ủy có thể quyết định về tư tưởng nhưng không thể biểu quyết về tầm nhìn tương lai Tin học Việt nam. Thấy không thể “vùng vẫy” trong một hệ thống như thế nên Giáo sư đã từ chức, dù rất nhiều các vị lãnh đạo cao cấp đã yêu cầu ông tại vị. Tuy thế, ông vẫn là Viện phó VKHVN.

    Vị viện trưởng kế vị, tuy không là bí thư chi bộ như trước, nhưng lại có cơ chế mới “một thủ trưởng”, chi bộ chỉ để…tham khảo. Ông tha hồ áp dụng “tư duy” lãnh đạo mới.

    Lần thứ 2

    Tới năm 1993, có chuyện bầu bán lại ở Viện Tin học (được đổi tên là Viện CNTT). Đề cương thành lập viện cũng do Giáo sư Diệu và vài đồng nghiệp chấp bút. Vì tâm huyết với ngành CNTT non trẻ và mong đất nước thoát nghèo bằng tin học, Giáo sư Diệu quay về tham gia ứng cử Viện trưởng. Ông hiểu, ở vị trí nhất định mới mong thay đổi được diện mạo một ngành.

    Tổ chức phiếu thăm dò sau bao nhiêu “bàn tán hành lang” (sau này có dịp tôi sẽ kể vào lúc cần thiết), ông vẫn được 58 phiếu, người về thứ 2, kém chục phiếu gì đó. Không hiểu vì lý do gì mà Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện KHVN) lại quyết định người về “nhì”(đương kim Viện trưởng VTH) được làm Viện trưởng Viện CNTT.

    Nhớ lúc đó, Giáo sư Diệu phát biểu đại loại rằng, đây là một quyết định phi dân chủ, và người ra quyết định đã lật lọng, phá hoại khoa học. Ông tuyên bố từ chức luôn cả Viện Phó VKHVN và về vườn từ lúc hơn 50 tuổi.

    Đương nhiên, tôi không hiểu hết thế sự bên trong. Phía sau quyết định của Viện sỹ Hiệu là gì, không ai biết được. Có thể Viện sỹ đã hứa gì đó nhưng sau đó “lật lọng”, hoặc người khác có lý “gấp đôi”.

    Dù là con kiến nhưng tôi đã không ngần ngại nói “Lớp cán bộ khoa học trẻ vào Viện với tình yêu khoa học và tin vào các bậc đàn anh. Nhưng hôm nay, chứng kiến sự mất dân chủ và quyết định bất ngờ, tôi hiểu rằng, lòng tin của trí thức đã bị đặt nhầm chỗ”.

    Di sản khoa học…

    Nếu ai làm việc ở đâu đó thời gian dài, thường được hỏi về legacy (di sản) của người đó. Giáo sư Phan Đình Diệu cùng với đồng sự đã để lại nền vi tính non trẻ cho Việt nam (kể cả châu Á khi đó!) và thương hiệu Viện Tin học trước năm 1985.

    Hôm nay, có dịp qua Viện CNTT (Viện TH cũ) bạn sẽ thấy Viện này đã an bài như định mệnh của chính Viện KH Việt nam (nay đổi là Viện KH Công nghệ Quốc gia). Xuống dốc Bưởi nhìn thấy toà nhà bậc thang piramid, mốc meo với những điều hoà đủ kiểu và kiến trúc pha trộn Đông Tây trong Viện KHVN, như mối tình Chí Phèo-Thị Nở, khi tàn bạo trong vườn chuối, lúc lãng mạn dưới ánh trăng bên sông.

    Sau 30-40 năm hoạt động, “nhà trẻ trung ương” VKHVN với 5-6 nghìn cán bộ khoa học đã làm gì cho đất nước? Danh tiếng Viện CNTT đang ở đâu trên đất nước này. Có ai còn nghe tới họ, hay chỉ là những gì làm 25 năm trước mới đáng kể. Mà số tiền tiêu vào đó là bao nhiêu tỷ của dân nghèo.

    Mới đây, Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu được tặng Huân chương Nhà nước do cống hiến cho khoa học. GS Phan Đình Diệu lại “từ chức”…tiếp dù ông đã về hưu.

    Và lần thứ 3 ở…IDS

    Lần từ chức thứ nhất chỉ liên quan đến một viện và sự đi xuống của nó sau đó. Lần thứ hai tương đương với một bộ. Hình ảnh Viện “Hàn lâm” trên Nghĩa Đô hôm nay đủ nói lên những trí thức không được dùng đúng mục đích bị ảnh hưởng như thế nào tới vị thế của nền khoa học.

    Lần thứ 3 này phải chờ xem sau vụ tự giải thể của IDS. Ảnh hưởng của sự kiện là tầm quốc gia nếu không nói là quốc tế. Những người như bà Phạm Chi Lan, Giáo sư Hoàng Tụy, TS Lê Đăng Doanh, TS Nguyễn Quang A và các vị khác, … cả thế giới biết tên tuổi.

    Sự giải nghệ của họ và Quyết định 97 giúp tinh hoa dân tộc “yên lòng” hơn với tuổi hưu nhàn hạ. Họ khá đầy đủ về vật chất, nếu chỉ muốn yên ổn thì vào IDS làm gì. Vì nặng lòng với đất nước và dân nghèo, hy vọng IDS là nơi giúp chuyển tải những phản biện hay cố vấn của một tập thể trí thức tinh túy nhất nước tới Đảng và Nhà nước. Ai nghi ngờ lòng yêu nước của họ hãy xem lại bản thân.

    Không hiểu sao lại nghĩ vẩn vơ. Dù ở xa Tổ quốc, tôi luôn dự cảm rằng, đất nước rồi sẽ tiến lên, đi đâu sẽ ngẩng cao đầu, rằng, ta đến từ nơi dân giầu nước mạnh. Mong thì vẫn hằng mong.

    Lời kết

    Nhớ về câu chuyện của đất nước mình, từng là hình mẫu cho đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều người đã nhìn vào để noi gương. Tuy nhiên, ánh hào quang quá khứ không giúp được nhiều cho hội nhập hôm nay.

    Nơi tôi công tác trước đây cũng không nằm ngoài qui luật đó. Lật vài trang sử của Viện cũng đủ hiểu số phận một đất nước, một dân tộc hay một đời người.

    Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới, ai sẽ là bạn khi ta gặp khó khăn, chìa tay giúp đỡ, kẻ nào đợi thời cơ để hãm hại. Có nhiều trí thức giỏi, có tâm và tầm, sẽ giúp tìm ra được lời giải.

    Nhớ khi cụ Hồ sang Pháp thời kháng chiến, lúc quay về đã mang theo Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa và bao thanh niên hiểu biết. Chính giới tinh hoa đó đã đưa Việt Nam sang một vị thế khác.

    Ngày nay, nhiều trí thức rất giỏi nằm ngay ở trong nước. Để họ “từ chức” nghĩa là mất “nội lực”, và vì thế khó mong “ngoại lực” quay về, dù có trải thảm đỏ.

    IDS đã ra đi, không còn nghe được tiếng tơ lòng của họ. Người ta bảo, tiếng quát của kẻ thất phu không đáng sợ, đáng sợ hơn là sự im lặng của những nhà hiền triết.

    Hiệu Minh

    Clip IOIT (Viện CNTT) 30 năm kỷ niệm do tác giả quay và biên tập

    http://hieuminh.org/2009/09/17/ids-khi-tri-thuc-tu-chuc/

  2. Nh ng c ng ch l m i ngh thôi, Yunho v a liên t ng ến T ng giám c ã thấy lạnh ng i.

  3. 3
    Vài kỷ niệm với Viện Tin học Says:

    Vài kỷ niệm với Viện Tin học

    Phòng lập trình 30 năm (2007)

    Hồi về khu Đồi Thông (Liễu Giai – Hà Nội) nhận việc, mình thấy có cái lò gạch bỏ không, nghĩ ngay đến cái nhà của Chí Phèo. Quanh đó trồng chuối, có cái mương nhỏ, thấy như Nam Cao sáng tác truyện đó ở đây.

    Năm 1993, sau những sóng gió tại Viện, mình sang UNHCR làm việc. Anh Khiết gọi điện báo “cho về một cục” 1,7 triệu VNĐ sau 17 năm công tác. Chiêu đãi đồng nghiệp hết 1 triệu, còn lại mang biếu bố mẹ.

    Mẹ nước mắt ngắn dài, con bỏ nhà nước ra đi thì sau này hưu trí thế nào, vợ con chưa có, mẹ thì già, bố sắp chết, lo lắm con ơi, sao đến nông nỗi này. Mẹ tôi không biết câu chuyện sau đây.

    “Vạ miệng”

    Hồi mới ra công tác, anh Khôi xem tướng và nói, Tổng Cua có nốt ruồi bên khoé mép, dễ bị “vạ miệng”. Quả là thầy tướng số có hạng.

    Tôi mất việc ở IOIT vì chính thói ba hoa và hay chê bai. Hình như dân khoa học nhiễm bệnh “Khoa học VN thật là kinh. Một thằng báo cáo, chín thằng khinh”. Tổng Cua cũng thế thôi.

    Năm 1990, bạn Nguyễn Hồng Quang và tôi vô Sài gòn bằng tầu hoả với một đoàn khá đông để triển lãm sản phẩm của IOIT. Có một phần mềm chữ Việt ở Sài Gòn khó sánh với bộ gõ tiếng VIED (còn gọi là VỊT) của Đoàn Anh Tuấn “râu” hiện đang ở UN NY, tôi châm chọc, mục đích nâng “râu cụp” của Tuấn lên.

    Quang nhắc “Anh Cua chán bỏ mẹ, hay chê quá. Người ta vốn thích khen hơn”. Sau vụ đó, tôi cẩn thận hơn, nhưng thỉnh thoảng vẫn buột miệng, lỡ mồm, dù đã tẩy cái nốt ruồi.

    Năm 1993, trong một cuộc bầu bán “dân chủ đầy hài hước”, Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu tuyên bố, các viện bầu thăm dò lãnh đạo, nhưng quyết định vẫn thuộc về ông ấy. Sau này sang Mỹ, mình mới hiểu dân chủ giả cầy có ở khắp nơi.

    Viện Tin học thăm dò, Giáo sư Phan Đình Diệu được 58 phiếu, Giáo sư Bạch Hưng Khang ít hơn chục phiếu gì đó. Ai cũng tin là Giáo sư Diệu sẽ được bổ nhiệm vì chính anh là người viết đề cương thành lập viện mới IOIT (Institute of Information and Technology – Viện CNTT), kể cả cái tên. Một người rất có uy tín trong làng khoa học.

    Công lao xây nền móng cho IOIT thuộc về Giáo sư Diệu và nhóm cán bộ trẻ nhiệt huyết theo hướng phát triển vi tính tại Việt Nam. Nhờ có những lãnh đạo tâm huyết như Trần Đại Nghĩa hay Phan Đình Diệu, nhiều người đi thực tập bên Pháp, khi về, xách va li đầy chíp cho máy tính, ổ đĩa mềm, đĩa cứng và cả mỏ hàn.

    Nhóm làm phần mềm thức trắng đêm, dạy máy tính nghe lời vài lệnh DOS, quên ăn, quên ngủ, dù nhà rất nghèo. Sáng sàng, các bà vợ sáng sáng mấy km lên viện mang cơm cho chồng “mấy đêm rồi, anh Việt nhà em không về nhà”, “Anh Khôi nhà em bỏ đi lên Viện cả tuần nay rồi”. Đạp xe đến văn phòng, không may ngã, cặp lồng cơm đổ ra đường, chỉ thấy muối vừng, mấy cọng rau muống già và quả cà pháo.

    Viện Tin học ở Đồi Thông 1990. Ảnh: VDM

    Thật đáng tiếc, vào đúng lúc IOIT cần một người lãnh đạo có tâm và có tầm để đưa IOIT sang vị thế mới, thì Viện sỹ Hiệu quyết theo ý thích. Ông chọn anh Khang vì lý do biết làm kinh tế, buôn máy tính, rồi trẻ hơn, như ông tuyên bố trước hàng trăm cán bộ của Viện IOIT năm 1993.

    Trong bầu bán, ủng hộ hay không thích ai là hết sức bình thường, mỗi người tìm mối lợi riêng. Người mê anh này, kẻ ủng hộ bác kia, dân ba phải hùa theo đám đông, là hết sức bình thường. Bên Pháp, ở Mỹ, tại UN hay Thuỵ Sỹ cũng thế thôi. Nhưng quan trọng, sau những bất đồng, có ngồi lại với nhau được không.

    Tuyên bố của Viện sỹ Hiệu đã làm Giáo sư Diệu giận giữ chưa từng thấy. Ông nói thẳng rằng, bầu bán làm gì, quyết định đó là phi dân chủ, phá hoại khoa học, không đưa IOIT đi về đâu.

    Giáo sư Diệu tuyên bố từ chức luôn Viện phó Viện KH VN và ra khỏi biên chế. Kể từ đó, giáo sư là người tự do.

    Với tính cách ngang như cua của mình, tôi như một đứa con nít hùa theo. Đại loại tôi nói rằng, chúng tôi là lớp trẻ vào Viện KHVN với tình yêu khoa học và tin vào các bậc đàn anh. Nhưng chứng kiến sự mất dân chủ và quyết định khó hiểu của Viện sỹ Hiệu, tôi biết rằng, lòng tin đã bị đặt nhầm chỗ.

    Đây mới là “vạ miệng” của Chí Phèo trước mặt Bá Kiến. Nhưng sau gần 2 thập kỷ nhìn lại, Tổng Cua thấy mình đã nói thật từ đáy lòng và…mất việc rất xứng đáng.

    Nhớ hôm bổ nhiệm đó, tiến sỹ Lê Hải Khôi (con trai bác Lê Hải Châu thường xuyên đưa học sinh đi thi toán quốc tế), chủ tịch công đoàn, bỗng lên kêu gọi đoàn viên ủng hộ QĐ của anh Hiệu và được khá đông người hoan hô vì vỗ tay lúc đó rất…an toàn.

    Tôi cố hỏi anh Diệu là trước khi tuyên bố chính thức ai làm Viện trưởng thì hai anh (Diệu và Hiệu) có nói chuyện gì không.

    Phía sau của quyết định của anh Hiệu là những gì nữa thì khó biết. Có thể Viện sỹ Hiệu đã hứa gì đó nhưng sau đó “lật lọng”. Không loại trừ người khác có lý “gấp đôi” khi lên làm viện trưởng.

    “Hậu” bầu cử và mất việc

    Sau khi yên vị với cái ghế, anh Khang gọi tôi lên, nhờ thiết kế logo mới cho IOIT và biểu tượng cho nhóm Xử lý ảnh. Anh nói thêm “Cụm từ Xử lý ảnh không dấu cũng được”. Không dấu nghĩa là “xử lý anh”. Tôi bắt đầu tìm mẫu đơn xin việc (CV) từ đó.

    Thôi thì mình cố làm người bình thường, chấp nhận thực tại. Lúc rỗi việc, tôi hay sang nhóm dự án cho Bộ Tài chính (BTC), lân la debug lập trình C, kiếm cốc chè đỗ đen buổi trưa. Hoặc tán chuyện, cười đùa với mấy em chưa chồng, xem ai để ý đến lão già ế vợ không.

    Cán bộ IOIT trên Nghĩa Đô (1992). Ảnh: VDM

    Sau vài lần ngó nghiêng trong tư cách người bảo vệ viện, một kỹ sư phần cứng có bộ ria con kiến, là thân cận của anh Trần Bá Thái (NetNam) và thủ trưởng Khang, nói với tôi “Đây không phải là chỗ của ông. Cấm không được lui tới, ảnh hưởng đến nhóm BTC”. Đánh nhau chắc ăn bã mía, tôi lẳng lặng rút lui.

    Các bạn trong nhóm BTC, gọi tôi ra quán nước chè bên đường, thì thầm một cách hết sức nghiêm trọng “Anh không nên đến chỗ này, vì đó là miếng cơm manh áo của gia đình chúng em. Lãnh đạo viện cũng nhắc nhở rồi”, dù ngoài đời họ rất thân ái với Tổng Cua.

    Tôi chợt nhớ phim “Con hủi” nổi tiếng của Ba Lan. Số phận giống nhau, nhưng con hủi trong phim còn được giới quí tộc đuổi đi. Trộm cướp dốc Bưởi xưa của nhà văn Tô Hoài từng kể là có thật.

    Di sản Viện Tin học

    Các anh Phan Đình Diệu, Nguyễn Chí Công, Vũ Duy Mẫn và đội ngũ cán bộ trẻ hết lòng vì khoa học đã để lại thương hiệu vi tính cho Việt nam, kể cả châu Á khi đó, và tên tuổi của Viện Tin học suốt một thời gian dài.

    Khi thay lãnh đạo và sau mấy chục năm, người ủng hộ, người chống đối hay kẻ ba phải trong cuộc bầu cử 1993 đi phiêu bạt khắp nơi. Chúng tôi giữ một danh sách dài các IOIT kiều dân và có cả một “đài IOIT hải ngoại” cứ năm mới là lên tiếng “Đoàn quân IT đi, chung lòng cứu lấy bản thân mình xa xôi trên đường…”

    Viện trưởng kế cận Lê Hải Khôi được đào tạo bài bản từ lúc anh ấy đến nhà riêng dạy kèm cho hai cháu Thuỷ Hà và Hưng Nguyên của Giáo sư Bạch Hưng Khang, cũng không trụ được quá sáu tháng, phải phiêu bạt sang Nam Hàn và hiện ở Singapore.

    IOIT chia ra nhiều loại cán bộ. Loại trung kiên thì bám viện đến cùng. Loại “Việt gian” là chân trong chân ngoài, vẫn thuộc biên chế, lĩnh lương, sổ hưu, nhưng làm ngoài là chính. Loại nguy hiểm nhất là “phản động” theo Tây hoàn toàn, thậm chí nhập quốc tịch nước khác.

    Viện có em Hường hay đốp chát và vui tính. Thủ trưởng hay đi tuần xem quân có chơi game trong giờ làm việc hay bỏ đi đâu. Găp em Hường ở cầu thang, ông hỏi “Cô này đi đâu”. “Dạ thưa, em đi đái”. Thế là từ đó hết hỏi, và cũng nói lên tầm micro của người quản lý hàn lâm.

    Vĩ thanh

    Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu đã già, không còn hùng biện như xưa. Có lẽ ông chẳng hối hận vì đã để mấy nghìn các nhà khoa học trẻ uổng phí tài năng sau vài thập kỷ.

    Nhìn ông với những huân, huy chương, danh vọng khoa học, đầy trên ngực áo, cũng hiểu rằng, Viện sỹ bằng lòng với những gì ông đã làm cho nền khoa học nước nhà. Như người ta bảo “All that glitters is not gold – lấp lánh chưa phải là vàng”.

    Nguyễn Chí Công và PC đầu tiên. Ảnh tư liệu IOIT

    Chỉ có người dân è cổ tiếp tục đóng thuế cho các nhà khoa học và giấc mơ hàn lâm của giáo sư Trần Đại Nghĩa mang nỗi đau không lời.

    Nhớ về câu chuyện của đất nước mình, từng là hình mẫu cho đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều người đã nhìn VN để noi gương. Tiếc thay, hào quang quá khứ chiến tranh không giúp được nhiều cho hội nhập hôm nay.

    Viện Tin học cũng không nằm ngoài qui luật đó. Lật vài trang sử của IOIT cũng đủ hiểu số phận một dân tộc hay một đời người.

    IOIT cũng như VKHVN đã an bài như định mệnh. Xuống dốc Bưởi đầy trộm cướp ngày xưa, bạn sẽ thấy toà nhà pyramid, mốc meo với những điều hoà đủ kiểu và kiến trúc pha trộn như mối tình Chí Phèo – Thị Nở, khi tàn bạo trong vườn chuối Liễu Giai, lúc lãng mạn dưới ánh trăng bên sông Tô Lịch bốc mùi.

    Tôi có quay một đoạn video và để trên YouTube nhân dự kỷ niệm IOIT 30 năm. Bản nhạc du dương nói hộ nỗi lòng của người yêu tin học ra đi trong ưu tư, phiền muộn.

    Trong mấy phút video ấy, giọng lắp bắp của anh Vũ Đức Thi, quyền viện trưởng mấy năm liền, nói về thành tích mà viết từ 20 năm trước vẫn nguyên giá trị.

    Đương kim Viện trưởng là anh Thái Quang Vinh, giỏi toán điều khiển, chơi cờ tướng có hạng, thích nằm bàn ngủ trưa và cũng…nói lắp.

    Ngày nay, vị thế của Viện Tin học đứng ở đâu thì ai cũng rõ. Dự đoán của Giáo sư Diệu quả không sai dù làng Liễu Giai không còn lò gạch cũ của Nam Cao.

    Thời gian là thước đo tất cả. Mấy câu thơ của Olga Becgôn chợt đến trong tôi
    “Em mới hiểu bây giờ anh có lý
    Dù chuyện xong rồi anh đã xa cách thế
    Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa theo“.

    Hiệu Minh. 27-01-2012

    http://hieuminh.org/2012/01/28/vai-ki-niem-voi-vien-tin-hoc/

  4. 4
    Hàn lâm…liệt truyện Says:

    Hàn lâm…liệt truyện

    Đội ngũ khoa học trẻ bên máy ODRA. Ảnh: IOIT

    Nói đến Viện Khoa học Việt Nam (VKHVN) trên Nghĩa Đô (Hà Nội), ai cũng biết đó là cái nôi của nền khoa học nước nhà với ước vọng thành Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam. Nhà văn Tô Hoài kể ngày xưa dốc Bưởi Nghĩa Đô có nhiều trộm cướp.

    Được thành lập sau 1975, VKHVN có các viện chuyên ngành như Toán, Tin học, Sinh học, Vật lý, Hóa học… Biên chế khoảng 3000 cán bộ khoa học trẻ, tốt nghiệp loại ưu tú từ các nước XHCN trở về.

    Thời gian đầu Giáo sư Trần Đại Nghĩa làm Viện trưởng, sau đó là Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu. Tuổi trẻ như tôi vào đó với bao ước vọng lớn lao. Chiến tranh đi du học, hòa bình quay về xây dựng đất nước. Hoài bão không nhỏ, nhưng khi vào thực tế thì mới biết câu chuyện hàn lâm ở một nước nghèo không đơn giản.

    Hành trình đưa điều khiển học về hợp tác xã

    Nhớ tháng 8-1977, từ Ba Lan về Viện Tin học ở làng Liễu Giai (Ba Đình, Hà Nội) nhận việc, tôi được một cái bàn cũ, cóc gặm nham nhở, ngồi cạnh anh Hồ Thuần là trưởng phòng Lập trình và tiến sỹ Vũ Duy Mẫn. Phòng 8m2 mà có tới 6 cán bộ hàn lâm. Mở ngăn kéo ra muỗi bay đầy vào mặt, gián, chuột tha hồ tung tăng khắp sân.

    Làng Liễu Giai trồng rau, hoa, nhất là hoa lay ơn, thược dược, cần phân tươi, nước giải. Chiều chiều bà con làm vườn, dân khoa học cổ cồn, quần ly, sang trọng dự seminar, vừa bịt mũi, vừa nghe giảng về lưới Petri, automat hữu hạn, vi mạch và micro computer.

    Mình trẻ nhất, được các anh chị phân làm việc rửa chén, pha chè mỗi sáng, mỗi chiều. Cơm cặp lồng, quả cà, rau muống và ngủ trưa trên bàn. Cứ thế cuộc đời trôi đi lặng lẽ hàng chục năm trời mà chẳng hiểu mình làm gì cho đất nước.

    Ban Điều khiển có bác Nguyễn Thúc Loan làm trưởng phòng. Nghe nói đây là Tiến sỹ Cybernetics giỏi nhất VN bấy giờ.

    Đọc sách, seminar mãi đâm chán, bác Loan có sáng kiến nên về thâm nhập thực tế. Một đoàn cán bộ trẻ như Tuấn Hoa, Kim Anh, Kiều Oanh xinh đẹp lên đường về nông thôn. Họ ăn ở cùng nông dân để xem liệu ngành điều khiển có giúp gì trong việc sản xuất lúa gạo, hay cải tiến thủy nông. Tiến sỹ Loan cũng rất thực tế, khoa học mà chả giúp gì nông dân thì khoa học làm gì.

    Viện Tin học 1977. Ảnh: NC Công.

    Một lần họp xã viên, bác chủ nhiệm đứng lên giới thiệu. Hôm nay vinh dự có các anh chị trên trung ương về dự. Có ba vấn đề bàn, không cái nào quan trọng hơn cái nào. Đó là đào mương thông sang làng bên, sinh đẻ có kế hoạch bằng thẳt ống dẫn tinh và đưa điều khiển học vào việc đếm trâu đi làm. Cho điều khiển học đứng sau đặt vòng, nhà nông thực tế hơn các viện sỹ.

    Không kể thêm cũng biết, điều khiển học đếm trâu đi theo Ngưu Ma Vương sang Tây Trúc thỉnh kinh.

    Tiến sỹ Loan thực tế hơn, bỏ điều khiển học, lấy vợ trẻ, có con, sang Liên Xô, xuất khẩu lao động kiêm buôn máy tính. Hai nàng Kim Anh và Kiều Oanh hoa khôi một thời, nay đã thành các bà lão 60.

    Vi tính Việt Nam không thể ra biển lớn

    Tôi còn nhớ các chuyên gia Pháp thi nhau đến giảng dạy về vi xử lý tại Viện, nơi có chiếc máy ODRA mua của Ba Lan, giá hàng triệu rúp (triệu đô la), chiếm mấy gian hầm chống B52 tại Đồi Thông trong làng Liễu Giai. Đó là niềm tự hào tin học của miền Bắc lúc đó.

    Chuyên gia và cũng là cha đẻ của ngành vi tính Việt Nam, Alain Teissonnière, đã tiên đoán máy vi tính sẽ thay thế chiếc ODRA cồng kềng kia và sức mạnh tính toán sẽ được đặt trên chiếc bàn làm việc chứ không phải trong một căn nhà đồ sộ, tốn kém.

    Không ai tin được, kể cả những vị công tác lâu năm. Thế mà sau vài năm, điều tưởng chừng vô lý lại thành sự thật.

    Hôm nay, ít người nhớ nước ta đã xuất xưởng chiếc máy vi tính đầu tiên của Châu Á từ phòng thí nghiệm tại Viện Tin học. Chiếc máy được thiết kế với chip Intel 8080A nên anh em kỹ sư đặt tên là VT80, VT có nghĩa là vi tính.

    Thế hệ sau của VT80 là VT8X được mang đi ứng dụng thử vào quản lý vật tư cho xí nghiệp may Sinco tại Sài gòn vào năm 1981. Phần lập trình đều viết bằng ngôn ngữ bậc thấp assembler. Chiếc máy đó đã chứng minh rằng, vi tính là tương lai của công nghệ thông tin và sức mạnh tính toán có thể đặt trên một chiếc bàn.

    Chiếc PC đầu tiên. Ảnh: IOIT

    Tôi nhớ lần mang chiếc VT8X đến Hội nghị thành ủy Sài gòn để trình diễn vào giờ nghỉ trưa, được các vị Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh và Mai Chí Thọ nghe rất chăm chú qua lời giới thiệu rất PR của PTS trẻ Vũ Duy Mẫn. Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt hỏi đùa một câu “Giá chiếc máy bé xíu này tương đương với mấy tấn lúa?”.

    Khi đó, khu vực Châu Á nói chung, trừ Nhật bản ra, còn rất lạ lẫm với vi xử lý. Các đoàn từ Thái Lan, Nam Triều tiên, Singapore, Malaysia hay Ấn độ đến thăm Viện nườm nượp, một nơi mà đi vệ sinh phải đeo khẩu trang.

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên thăm hỏi Giáo sư Phan Đình Diệu, vị đứng đầu ngành tin học, hay người chủ trì đề tài vi tính Nguyễn Chí Công về những tiến bộ đạt được.

    Năm 1980, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Viện, thấy hoàn cảnh cơ cực của những nhà khoa học nên đã giao cho Phó thủ tướng Đồng Sĩ Nguyên, khi xây Viện Toán học trên Nghĩa Đô, phải dành một phần cho phòng thí nghiệm vi tính, để khách quốc tế đến thăm, đỡ thấy đất nước mình quá khổ.

    Quan hệ XHCN với các nước tư bản như Pháp lúc đó rất khó khăn, kèm theo cấm vận của Mỹ nhất là nhập khẩu công nghệ. Từ lãnh đạo đến cán bộ trẻ của Viện, sang Paris thực tập, khi về nước mang trong va li những linh kiện vi tính, dù với số tiền đó, họ có thể mua thêm một cái xe máy, tương đương một căn hộ lắp ghép Thành Công.

    Những thành công sáng chói bước đầu của vi tính Việt Nam đều có dấu ấn lãnh đạo cấp nhà nước, của cán bộ trẻ năng động và chuyên gia Pháp, hết lòng vì khoa học, dù chỉ dừng ở phòng thí nghiệm.

    TT PV Đồng thăm viện. Ảnh: IOIT

    Tiếc thay, do cấm vận của Mỹ, không thể nhập công nghệ để sản xuất đại trà, do tầm nhìn hạn hẹp và lợi ích nhóm, vun vén cá nhân tranh thủ làm giầu, rồi đấu tranh nội bộ liên miên của lãnh đạo sau này, chiếc máy vi tính VT80 không thể bơi ra biển lớn.

    Hôm nay Singapore, Hàn Quốc, Ấn độ đã bỏ xa Việt Nam, mà họ một thời từng đến học hỏi tại làng Liễu Giai đầy mùi phân tươi trộn nước giải. Dịp may hiếm có 30 năm trước để vi tính Việt Nam trở thành thương hiệu quốc tế đã bị phai phí.

    Sau hòa bình 1975, VKHVN có bao nhiêu dự án khoa học bị dở dang, uổng phí tiền bạc và tài năng thì khó ai biết được. Đôi lúc tên dự án rất kêu nhưng trong thực tế, chả mang lại gì nhiều cho người dân bình thường. May ra tính được trên đầu ngón tay những dự án trong sinh học, khí tượng, vật lý, tin học mang lại chút hiệu quả.

    Nhưng so với số tiền mà người dân đóng thuế, những gì thu được vô cùng nhỏ bé tại một nơi gọi là hàn lâm viện này.

    Từ Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu đến Giáo sư Ngô Bảo Châu

    Tin về Viện Toán cao cấp của giáo sư Ngô Bảo Châu vừa thành lập, tôi bỗng nhớ ngày xưa làm việc ở dốc Bưởi nhiều trộm cướp và làng Liễu Giai bốc mùi phân tươi.

    Người ta phấn đấu “đến năm 2020 toán học Việt Nam có thứ hạng thứ 40 trên thế giới”, rồi “kinh phí 650 tỷ đồng để nghiên cứu mà Chính phủ không yêu cầu Viện phải nghiên cứu cái gì, việc sử dụng số kinh phí trên như thế nào là quyền của GS Ngô Bảo Châu, Hội đồng khoa học quyết định”.

    Ai cũng biết Giáo sư, Viện sỹ, UVTW (và nhiều chức danh khác rất dài) Nguyễn Văn Hiệu là tiến sỹ khoa học thực thụ của viện Dupna lúc 26 tuổi. Sự nổi tiếng của ông không khác Giáo sư Ngô Bảo Châu hôm nay. Công trình vật lý về hạt neutrino của Viện sỹ Hiệu cũng khó hiểu như Bổ đề Langlands của Giáo sư Châu.

    Ra mắt Viện Toán cao cấp. VS Hiệu đứng hàng đầu từ phải sang.

    Khi đó, báo chí đã gán cho Viện sỹ Hiệu tất cả nhãn mác của một nhà khoa học trẻ, tài năng và hy vọng sẽ được giải thưởng Nobel về Vật lý.

    Lên thay giáo sư Trần Đại Nghĩa, giáo sư Hiệu là viện trưởng VKHVN lúc 45 tuổi, một trong những UVTW trẻ nhất thời bấy giờ. Ông được nhà nước dành cho mọi sự ưu đãi, kinh phí nghiên cứu và quyền hạn hơn cả bộ trưởng, tiền bạc, bổng lộc và danh vọng chính trị.

    Tiếc thay, Viện sỹ có thể làm khoa học giỏi, là UVTW rồi các danh tiếng khác, nhưng quản lý thì hỡi ôi, khó mà nói được điều gì. Thay vì tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu khoa học như nhà nước giao phó, mong muốn đưa khoa học vào thực tiễn, ông bỗng tuyên bố “con thuyền VKHVN sắp chìm, các anh các chị hãy tự cứu mình”. Viện sỹ cho thành lập các công ty trong Viện, biến nơi đây thành một thị trường nửa hàn lâm, nửa chợ trời buôn bán trao tay.

    Khống chế hạt neutrino trong thí nghiệm Vật Lý khác xa với quản lý một viện nghiên cứu có mấy ngàn người. Không có kỹ năng thì kết cục như thế là điều dễ hiểu.

    Hàng nghìn cán bộ tài năng trôi giạt khắp nơi. Sau 35 năm, nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” bỗng tự hỏi, mình đã làm gì cho đất nước này, khó mà tìm ra câu trả lời.

    Nghĩ về VKHVN, rồi Viện sỹ Hiệu nay đã hưu mà lo cho Viện Toán Cao cấp và Giáo sư Châu. Dù tin vào tài năng xuất chúng của tác giả giải Fields, vẫn có nỗi lo không phải không có căn cứ. Cứ xem sau 40 năm hoạt động của Viện Toán đã góp gì cho nền kinh tế nước nhà cũng đủ hiểu tại sao.

    Vĩ thanh

    Mấy tháng trước, anh Phạm Ngọc Khôi nhắn tôi về dự kỷ niệm Viện Tin học nhân 35 năm thành lập. Lần khân rồi chẳng về. Buồn nhớ bạn cũ, vào trang web của viện để xem có tin ảnh gì không. Đọc được mẩu tin này khá thú vị

    “Thực hiện chỉ thị số 725/CT-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2011 của Thủ tướng chính phủ phát động về thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 và kế hoạch 5 năm (2011- 2015), đồng thời để góp phần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam lần thứ VI, Viện Công nghệ Thông tin (CNTT) phát động phong trào thi đua với chủ đề “Đoàn kết, năng động, sáng tạo, thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2015”.

    Cán bộ ở Liễu Giai năm 1980. Ảnh: IOIT

    Nếu phát động này có 35 năm trước (1977) thì không ai ngạc nhiên. Nhưng thế giới đã đi rất xa sau hơn mấy thập kỷ mà vẫn một kiểu tư duy thời bao cấp với “vĩ từ và sáo ngữ”. Tự nhiên thấy thương bạn ở lại, và thương cả người đi.

    Trong tôi bỗng hiện ra lối mòn hàn lâm xưa ở Nghĩa Đô và con đường làng mà Tiến sỹ Loan đưa điều khiển học về đếm trâu.

    Ai có thể chắc chắn rằng, cách đầu tư cho khoa học có cách đây gần 40 năm sẽ đưa Toán học nước mình lên thứ 40, ngoại trừ chỉ có 40 quốc gia trên thế giới nghiên cứu về môn có ứng dụng cho vài thế kỷ sau, trong khi quốc gia đang vượt nghèo này cần bao nhiêu thứ khác thiết thực hơn.

    Ở quốc gia đã nghèo, lối mòn trong tư duy quản lý càng kéo lùi sự phát triển, dẫn đến pha phí chất xám.

    Ước mong của thế hệ trẻ tài năng bị chết “lâm sàng” bởi có những bác học tưởng rằng, con người cũng chỉ là bổ đề lạ hay hạt neutrino để bắn phá trong phòng thí nghiệm.

    Hiệu Minh. 24-01-2012.

    PS. Ảnh trong entry được lấy từ website của Viện Tin học (Viện CN TT).

    http://hieuminh.org/2012/01/26/han-lam-liet-truyen/


RSS Feed for this entry

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: