Đừng bị “hốt hồn” bởi những cái bóng to

*

*

*

Đừng bị ‘hốt hồn’ bởi những cái bóng to

Hỏi: Một phóng viên

Trả lời: TS. Lê Văn Út, ĐH Oulu, Phần Lan

url: http://cc.oulu.fi/~levanut/, https://levanut.wordpress.com/

 

Trước đây, tôi thường có cảm giác tự ti vì tôi thường nghĩ chuyện “tóc đen, tóc vàng”. Bây giờ tôi không nghĩ thế. Một khi mình chịu hoà nhập với dòng chảy chung của quốc tế thì không có gì phải tự ti cả.”

***

1. Quan niệm về người thầy ở nước mà anh đang dạy như thế nào?

Tôi chỉ xin nói về người thầy trong phạm vi khoa thuộc đại học mà tôi đang làm việc, vì tôi đã từng học, thi và đang giảng dạy ở đây nên tôi biết rõ. Tôi không rõ những gì tôi biết có phải là quan niệm chung về người thầy ở Phần Lan hay không; tuy nhiên, tôi nghĩ có thể sự khác biệt không lớn.

Nơi tôi làm việc, khái niệm về người thầy chỉ là khái niệm công việc. Nghĩa là những chức danh liên quan đến giảng dạy chỉ đơn giản là nghề nghiệp. Nghề của anh này là giáo sư đại học, nghề của chị kia là giảng viên đại học hay là giáo viên phổ thông. Đại loại là như thế.

Và đã nói đế nghề nghiệp thì mọi người có liên quan đến giảng dạy phải làm tốt công việc của mình để được đồng lương thỏa đáng. Lương của người dạy học ở Phần Lan, đối với tất cả các bậc học, thì tương đối khá. Những người này không cần phải quá lo lắng cho cuộc sống vật chất thường ngày của họ và gia đình.

Và cũng chính vì việc dạy học chỉ là một nghề nghiệp nên quan hệ giữa người dạy và người học cũng không có gì đặc biệt so với các quan hệ khác. Đơn giản chỉ là mối quan hệ cung cầu hay là công việc.

Trong cách xưng hô, người dạy và người học chỉ gọi nhau tên thôi (first names), không phân biệt già hay trẻ gì cả.

2. Cảm xúc của các anh khi lần đầu tiên đứng lớp như thế nào? Các anh đã có suy nghĩ gì khi đứng trước những học sinh không phải của dân tộc mình? Có chút nào khó khăn để các học sinh đó quen và tin tưởng vào mình không ạ? Cụ thể là khó khăn như thế nào?

Năm nay tôi có được phép giảng cho sinh viên sau đại học, năm cuối bậc thạc sĩ và nghiên cứu sinh tiến sĩ. Nói chung tôi rất vui vì được họ tin dùng. Tôi thấy việc giảng cho sinh viên nước ngoài khá thú vị nên tôi đã đăng ký dạy trong năm nay, và tôi được chấp nhận cho giảng bậc sau đại học.

Giảng dạy ở khoa tôi là một công việc khá cam go vì ở đây họ đào tạo theo quy chế tín chỉ nên sinh viên có quyền tự chọn môn học mà họ quan tâm. Sau một thời gian học một môn nếu sinh viên không thích hoặc không theo kịp thì họ sẽ không theo học môn này nữa.

Ai cũng như ai, lên lớp buổi đầu rất hồi hộp, vì không biết có sinh viên nào tham dự môn mình giảng hay không. Tôi cũng như thế! Ngoài vấn đề này, tôi còn lo liệu những sinh viên nước ngoài có tẩy chay tôi ngay từ buổi đầu hay không, vì sinh viên Phần Lan là những khách hàng rất khó tính.

Tôi đã suy nghĩ rất nhiều khi đứng lớp cho sinh viên không phải là của dân tộc mình. Khó khăn thứ nhất là trở ngại về ngôn ngữ. Điều thú vị là sinh viên sau đại học của Phần Lan “bị buộc” phải theo được bài giảng tiếng Phần Lan và cả tiếng Anh. Do đó, dù chưa biết tiếng Phần Lan, tôi cũng chưa gặp khó khăn gì về ngôn ngữ. Lớp tôi đang dạy gồm sinh viên Phần Lan, Pháp và Hy Lạp. Rất may là chuyện “hiểu nhau” cho đến lúc này là ổn.

Tôi chọn giáo trình khá chuẩn để giảng và tôi giảng về vấn đề mà tôi yêu thích, đương nhiên phải được sự đồng ý của khoa. Dù vậy, họ cũng phải “quây” tôi một vài lần để “làm quen”. Trước đây tôi đi học thì tôi đã biết thói quen của sinh viên chổ tôi là thế.

Trước đây, tôi thường có cảm giác tự ti vì tôi thường nghĩ chuyện “tóc đen, tóc vàng”. Bây giờ tôi không nghĩ thế. Một khi mình chịu hoà nhập với dòng chảy chung của quốc tế thì không có gì phải tự ti cả.

3.  Kỷ niệm nào với những học trò nước ngoài mà anh nhớ nhất ạ? Người học trò nào khiến các anh ấn tượng nhất và vì sao ạ?

Trong lớp tôi đang giảng có một sinh viên người Phần Lan, anh mới vừa tốt nghiệp thạc sĩ hạng tuyệt đối (5/5) và được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại đây. Anh này lúc nào cũng ngồi bàn nhất và lúc nào cũng muốn tranh luận với người dạy. Có một lần anh gặp riêng tôi và lịch sự dò hỏi liệu việc anh tranh luận “tới bến” trong lớp có làm tôi bực bội không. Tôi trả lời rằng tôi rất thích và xin mời anh cứ tiếp tục.

Có lần anh “quây” tôi liên tục vì anh cho rằng tôi quá lạm dụng việc trích dẫn tên tuổi các nhà toán học lớn khi nhắc lại các kiến thức cũ. Lúc đầu tôi hơi bối rối vì tôi tưởng tôi giảng sai.

Tôi hỏi lại: “Bạn cho tôi biết có gì sai không?”.

Anh bảo: “Tôi nghĩ anh không sai gì về kiến thức, nhưng việc anh trích dẫn những công cụ đơn giản mà lại kèm theo tên tuổi những nhà toán học lớn như vậy là không phù hợp cho lắm và anh có chắc là những người mà anh đề cập có là tác giả của những công cụ đó không?”.

Tôi nói: “Như tôi đã nói, bài giảng của tôi phần lớn là dựa theo sách của Evans ở Berkeley mà! Tôi sử dụng phần lớn ký hiệu, công thức trong quyển sách này. Tên gọi của các công cụ cũng được tôi trích từ quyển sách này”.

Anh phán: “Anh đừng nên mang bất kỳ tên tuổi lớn nào ra để dọa tôi nhé (Evans hiện là giáo sư ĐH California in Berkeley – chú giải của tôi)! Cái tôi cần là gốc gác thật sự của các tên gọi cho những công cụ mà anh sử dụng. Dù cho Evans là một tên tuổi lớn nhưng chắc gì những gì ông ấy viết là hoàn toàn đúng.”

Đến đây thì tôi đề nghị “anh cũng có lí, có lẽ chúng ta nên xem lại”. Bỏ qua đúng, sai trong cuộc tranh luận trên, tôi đã rút ra một bài học cho mình từ anh sinh viên Phần Lan của tôi: đừng bị “hốt hồn” bởi những cái bóng to.

********************

********************************************

********************

Phần trích dẫn trên Báo Tiền Phong

Thầy Việt trên những giảng đường thế giới

Front page Báo Tiền Phong – 20.11.2011

TP – Sinh viên Âu- Mỹ thẳng thắn và tinh tế trong quan hệ thầy trò. Những người thầy Việt Nam ngày càng để lại dấu ấn đậm nét ở các trường đại học phương Tây. Họ chỉ mong gặp được nhiều học trò từ quê nhà trên những giảng đường ấy.

GS Nguyễn Đăng Hưng (thứ hai từ phải sang) cùng đồng nghiệp và sinh viên khoa hàng không không gian, ĐH Liège, Bỉ (2006).
GS Nguyễn Đăng Hưng (thứ hai từ phải sang) cùng đồng nghiệp và sinh viên khoa hàng không không gian, ĐH Liège, Bỉ (2006).

Khi sinh viên Tây cho thầy ta một “bài học”

Tiến sỹ Lê Văn Út – Đai học Oulu Phần Lan, kể: “Trong lớp tôi đang giảng có một sinh viên người Phần Lan, anh vừa tốt nghiệp thạc sĩ hạng tuyệt đối (5/5) và được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh tiến sĩ tại đây. Anh này lúc nào cũng ngồi bàn nhất và lúc nào cũng muốn tranh luận với người dạy. Một lần anh gặp riêng tôi và lịch sự dò hỏi liệu việc anh tranh luận “tới bến” trong lớp có làm tôi bực bội không. Tôi trả lời rằng tôi rất thích và xin mời anh cứ tiếp tục.

Có lần anh “quây” tôi liên tục vì anh cho rằng tôi quá lạm dụng việc trích dẫn tên tuổi các nhà toán học lớn khi nhắc lại các kiến thức cũ. Tôi hỏi lại: “Bạn cho tôi biết có gì sai không?”.

Anh bảo: “Tôi nghĩ thầy không sai gì về kiến thức, nhưng việc thầy trích dẫn những công cụ đơn giản mà lại kèm theo tên tuổi những nhà toán học lớn như vậy là không phù hợp cho lắm và thầy có chắc là những người mà thầy đề cập có là tác giả của những công cụ đó không?”.

Tôi nói: “Như tôi đã nói, bài giảng của tôi phần lớn là dựa theo sách của Evans ở Berkeley mà! Tôi sử dụng phần lớn ký hiệu, công thức trong quyển sách này”.

Anh phán: “Thầy đừng nên mang bất kỳ tên tuổi lớn nào ra để dọa tôi nhé (Evans hiện là giáo sư ĐH California ở Berkeley – chú giải của tôi)! Cái tôi cần là gốc gác thật sự của các tên gọi cho những công cụ mà thầy sử dụng. Dù cho Evans là một tên tuổi lớn nhưng chắc gì những thứ ông ấy viết là hoàn toàn đúng”. Tôi rút ra bài học cho mình: đừng bị “hốt hồn” bởi những cái bóng to”.

TS Toán học Lan Nguyễn, từng đoạt giải giảng dạy xuất sắc bang Ohio – Hoa Kỳ năm 2011, nhưng lần đầu tiên bước lên bục giảng vẫn “sợ” vì lúc đó kỹ năng nghe tiếng Anh chưa tốt lắm. Buổi dạy đầu tiên, TS Lan Nguyễn phải hỏi lại sinh viên: “Could you please repeat your question?” (Bạn có thể nhắc lại câu hỏi?). Nhưng không phải thế mà thầy “mất điểm” với sinh viên. Và sinh viên dù có kém thì thầy cũng không được chê.

TS Lan Nguyên kể: “Hồi ở Việt Nam, khi đang dạy ở Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, tôi đã nhiều lần phàn nàn với sinh viên: “Các anh chị học dốt và lười quá”. Nhưng ở bên này, nói câu đó có thể bị đuổi việc”.

Tiến sỹ Út trên giảng đường Đại học Oulu, Phần Lan.
Tiến sỹ Út trên giảng đường Đại học Oulu, Phần Lan.

Đưa tục ngữ Việt Nam vào dạy Toán

Tôi đến Đại học Cambridge lừng danh, ngôi trường đã có 81 giải Nobel. Trở thành giảng viên của trường đại học số một thế giới dĩ nhiên cực kỳ khó và là niềm mơ ước của bất cứ người nào làm nghề dạy học.

Ở Cambridge có nột người Việt đang giảng dạy: TS Hoàng Việt Hà. Anh còn rất trẻ, dáng thư sinh, luôn mỉm cười. Anh Hà kể, bố mẹ anh đều là giảng viên đại học. 18 tuổi Hà đã được nhận học bổng AusAID du học Úc. Tốt nghiệp đại học năm 1996, anh nhận học bổng làm nghiên cứu sinh tại Cambridge. Khi bảo vệ thành công luận án tiến sỹ ngành toán, anh được giữ lại trường làm giảng viên.

Ngày đầu tiên đứng trên bục giảng của trường Emmanuel (Đại học Cambridge), Hoàng Việt Hà hơi run, khi ngồi dưới kia là những sinh viên xuất sắc nhất toàn nước Anh và thế giới. Rồi anh lấy lại tự tin. Sinh viên Việt Nam ở Cambridge “khét tiếng” giỏi toán: Lê Hoàng Việt Bảo, Lương Thế Vinh, Đinh Nho Tâm.

Phong cách học ở Cambridge, giảng viên đóng vai trò hướng dẫn, cố vấn, truyền cảm hứng và kỹ năng cho sinh viên. TS Hà bằng sự tận tâm của mình đã giúp nhiều sinh viên bản xứ vốn tự tin về tư duy độc lập của mình hiểu rằng “Không thầy đố mày làm nên”. Giờ toán, TS Hà minh hoạ bằng ca dao tục ngữ Việt Nam và cả truyện Kiều.

Khi tôi đến, TS Hoàng Việt Hà đang sống cảnh “cơm niêu nước lọ” một mình trong một căn hộ dành cho giảng viên ở Cambridge. Những ngày lễ tết của xứ ta, anh vẫn thường tụ họp với sinh viên Việt Nam, làm nem rán, phở, dưa hành. Anh luôn mong mỏi có nhiều sinh viên quê nhà đến học ở Cambrige hơn, bởi một đất nước có truyền thống hiếu học mà mới gần 40 người có mặt ở đại học lừng danh này thì vẫn ít so với Thái Lan, Malaysia, Singapore.

Học trò Pháp viết báo ca ngợi thầy Việt

GS – TSKH Nguyễn Đăng Hưng, người châu Á duy nhất được Vua Albert II trao tặng Huân chương Đại thần của Vương triều Bỉ, được tạp chí hàng tuần của Bỉ Le Vif – l’Express bình chọn là một trong 10 người nước ngoài “đã làm thay đổi nước Bỉ”.

Chất giọng Quảng Nam, ông kể, ông bắt đầu đứng lớp ở Đại học Liège cách đây 40. Dù tiếng Pháp của thầy lúc ấy chưa chuẩn lắm, nhưng học trò đã bị cuốn hút bởi cách cách dạy truyền cảm và kiến thức sâu rộng. Tình thầy trò cứ thế nảy nở và GS Nguyễn Đăng Hưng cùng những sinh viên của mình đã xuống đường biểu tình phản đối Mỹ gây chiến ở Việt Nam. Có những học trò được GS Hưng hướng dẫn luận án tiến sỹ và sau này trở thành cộng sự và đồng nghiệp của ông.

Một trong những người học trò ấy mới đây đã viết một bài báo bằng tiếng Pháp rất cảm động về thầy Nguyễn Đăng Hưng. Người học trò đó là Géry de Saxcé – Giáo sư, Phòng thí nghiệm cơ học Lille, trường Đại học Lille, Pháp. Bài viết được TS Châu Đình Thành, một học trò khác của GS Hưng dịch lại bằng tiếng Việt.

“Thầy Hưng là một người có lòng đam mê đặc biệt và luôn luôn bận rộn trong nghiên cứu khoa học. Thầy còn là một nhà yêu nước đáng kính phục. Tôi có cảm tưởng thầy có khả năng chuyển hóa nhiệt huyết của tuổi trẻ để hướng họ đến việc xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn”. Lời của GS Géry de Saxcé.

Bài báo viết: 17 năm qua (từ 1995 đến 2007), thầy dành gần phân nửa quĩ thời gian của mình đi đi về về giữa Bỉ và Việt Nam để góp phần đào tạo cho đất nước 400 thạc sĩ và 20 tiến sĩ có trình độ quốc tế. Thầy đã đưa rất nhiều học bổng của các trường đại học uy tín châu Âu về Việt Nam, ngặn chặn tình trạng chảy máu chất xám…

Người học trò Pháp còn biết được dự định thầm kín cuối đời của thầy mình, khi anh trích lời tâm sự của GS Nguyễn Đăng Hưng: “Tôi muốn dành phần còn lại của đời mình tiếp tục một số việc có ích để cuộc đời ý nghĩa hơn. Sau đó, tôi mong mỏi sống lại thuở ấu thơ bên dòng suối nhỏ, có nước chảy róc rách trong buổi trưa hè hay được thường xuyên nằm nghe trước khi chợp mắt, bản đàn bất tận phát ra từ thuở hoang sơ, tiếng rì rào của sóng biển ngày đêm vỗ về cát trắng…”

Phùng Nguyên

http://www.tienphong.vn/Khoa-Giao/Giao-Duc/558678/Thay-Viet-tren-nhung-giang-duong-the-gioi-tpp.html

Advertisements

8 Comments »

  1. […] – Đã đến lúc làm lại bóng đá Việt Nam? (TTVH). GIÁO DỤC-KHOA HỌC – Đừng bị ‘hốt hồn’ bởi những cái bóng to (Lê Văn Út). – Khó tuyển, khó giữ giảng viên trẻ (NLĐ).  – Nghề nhạy cảm […]

  2. […] DỤC-KHOA HỌC – Đừng bị ‘hốt hồn’ bởi những cái bóng to (Lê Văn Út). – Khó tuyển, khó giữ giảng viên trẻ (NLĐ).  – Nghề nhạy cảm […]

  3. 3
    nguoiban Says:

    Tôi thích chỗ sau đây:
    “… anh tranh luận “tới bến” trong lớp có làm tôi bực bội không. Tôi trả lời rằng tôi rất thích và xin mời anh cứ tiếp tục…”. 🙂

    Thời đại học, tôi nhớ cũng nhiều khi muốn “đôi công” với ông thầy, hay bà cô đang dạy mình nhưng thường hay ngại. Ngại vì tính tôi tự ti, và các “giáo chức” dường như không biết cách, hoặc không quan tâm đến việc phát huy tính “quậy” của SV. Khi đang học năm 2, môn giải tích 2, tôi nhớ là chỉ có tôi giơ tay xung phong giải bài toán cô ra. Giải xong, dù ra đáp số, nhưng cô phán tôi: “máy móc, không hiểu vấn đề”. Sự thật là tôi giải một cách máy móc bài toán và ko hiểu bản chất. Nhưng
    chính câu nói đó làm tôi thật sự không thích cô dạy. Và kể từ đó, tôi cũng không thích “quậy” nữa + lười học môn cô. Đáng lẽ cô nên khích lệ tinh thần tôi, nhưng đằng này cô …
    Có lẽ tư tưởng “cây cao bóng cả” đã ăn sâu vào nhiều học sinh, sinh viên Việt. Vì thế, rất ít “anh chàng” (càng hiếm “cô nàng” luôn!) dám “xuất chưởng” thử thầy cô mình 😀
    p/s: nghe TS Ut tâm sự chuyện bị học trò Tây “thử chiêu” vui thật :). Thank you!

    ————–
    UVL: Cảm ơn bác đã chia sẽ 🙂 Nếu mình mà nói “máy móc, không hiểu vấn đề” thì có khi “chết” với họ – sinh viên chổ tôi. Họ sẽ tố mình xúc phạm họ thì chết queo :-). Tuy nhiên cũng kô nên dễ dàng với họ; nếu gặp trường hợp như vậy thì mình phải vừa động viên và vừa giải thích cho họ.

    Tóm lại, tất cả đều xem nhau là bạn nên cũng thoải mái.

  4. […] Đừng bị ‘hốt hồn’ bởi những cái bóng to (Lê Văn […]

  5. 5
    hungdm1 Says:

    Ở đâu người Tài cũng được trọng dụng. Cảm ơn các Thày đã làm rạng rỡ dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.

  6. […] Đừng bị ‘hốt hồn’ bởi những cái bóng to (Lê Văn […]

  7. Bài viết rất hay của GS Nguyễn Văn Tuấn:

    Trải nghiệm tự học của tôi

    LTS. Tác giả bài viết tham gia diễn đàn kỳ này quê ở Bình Định, sang Úc từ năm 1982. Để mưu sinh, ông đi làm phụ bếp ban ngày, đêm đi học thêm. Từ một chân phụ bếp rồi phụ tá trong bệnh viện, ông đã trở thành tiến sĩ toán thống kê, tiến sĩ y khoa nội tiết học, chuyên gia nghiên cứu cao cấp hội đồng Nghiên cứu y tế và y khoa quốc gia Úc, giáo sư đại học New South Wales. Đến nay, ông đã công bố trên 160 công trình, bài báo khoa học và khoảng 100 báo cáo khoa học.

    SGTT.VN – Bài học về sự chủ động trong học hành của tôi bắt đầu từ khoảng 30 năm về trước. Dạo đó, tôi mới sang Úc, và vào học chương trình master. Lần đầu tiên vào giảng đường, tôi bị sốc vì gặp một vị giáo sư cao tuổi rất lạ lùng.

    Thầy đọc trò chép: cảnh quen thuộc trên các giảng đường Việt Nam. Ảnh: Hồng Thái

    Bài học đắt giá

    Ông đến lớp học hoàn toàn tay không. Không có bài giảng, và cũng không có tài liệu như các vị giáo sư khác. Ông ngồi trên bàn viết, một chân chấm đất, một chân đong đưa, thỉnh thoảng đi qua đi lại, và nói chuyện suốt gần hai tiếng đồng hồ. Ông nói về nghiên cứu của ông là chính, và tỏ ra cực kỳ hào hứng. Sinh viên chúng tôi há hốc ngồi nghe, chẳng ghi chép gì cả, và… chẳng hiểu gì cả. Trong suốt thời gian đó, ông không hề đụng đến bút mực, và dĩ nhiên là không bao giờ viết gì trên bảng (thời đó chưa có powerpoint). Đến giờ tan lớp, có sinh viên thắc mắc tại sao thầy không viết gì để sinh viên ghi lại vài ý, ông thản nhiên trả lời: “Đó không phải là việc của tôi, tôi chỉ cho các anh chị ý tưởng, các anh chị hãy về mà tìm thông tin mà học thêm”.

    Câu nói tìm thông tin mà học thêm đó chính là một phương pháp giáo dục phổ biến trong các đại học phương Tây. Đó cũng chính là khái niệm tự học mà thuật ngữ giáo dục gọi là autodidacticism. Thật vậy, sinh viên càng học cao càng được khuyến khích tự học. Ngay từ bậc cử nhân và thạc sĩ, sinh viên đã được cơ hội làm quen với việc chủ động tìm thông tin, thẩm định thông tin, phản biện, và làm nghiên cứu khoa học. Họ được huấn luyện để tự mình phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, được dạy kỹ năng tự làm nghiên cứu, rèn luyện tinh thần tôn trọng sự thật và khách quan trong phán xét. Do đó, khi sinh viên tốt nghiệp đại học, họ tự tin về kiến thức, năng động trong công việc, và sẵn sàng tham gia vai trò lãnh đạo (nếu cần).

    Có lần tôi nghe một anh người Mỹ còn trẻ nói chuyện về một đề tài thần kinh mà tôi cứ tưởng anh là nghiên cứu sinh tiến sĩ, nhưng thật ra anh chưa tốt nghiệp trường y. Một lần khác, tôi chứng kiến hai em bé người Mỹ chỉ mới 13 tuổi trình bày lưu loát một nghiên cứu (do chính hai em thực hiện) trong hội nghị loãng xương quốc tế với trên 5.000 người tham dự. Sự tự tin và kỹ năng nghiên cứu của họ đã được hun đúc ngay từ lúc còn nhỏ. Họ tự học từ kiến thức căn bản, và vì họ tự mình thu thập thông tin nên họ cảm nhận được và tự tin với điều mình nói.

    Ngược lại, sinh viên Việt Nam chúng ta có xu hướng thụ động và thiếu tinh thần tự học. Chẳng nói đâu xa, có thể lấy cá nhân tôi ra làm ví dụ. Khi mới vào học ở Úc, có lần tôi được cho một bài tập chỉ vẻn vẹn hai câu văn, yêu cầu bình luận về một công trình nghiên cứu. Thật ra, lúc đó, chẳng ai trong chúng tôi biết chủ đề của công trình nghiên cứu, vì sinh viên xuất thân từ nhiều chuyên khoa khác nhau. Cần mở ngoặc ở đây là lần đó bài làm của tôi thất bại thê thảm vì tôi chỉ lặp lại những kiến thức cơ bản, và thầy phê chỉ một chữ duy nhất “boring” (có nghĩa là đọc thấy chán, chẳng có gì sáng tạo) với điểm gần 0, điểm thấp nhất trong đời đi học của tôi. Nhưng chính qua câu hỏi đó, chính qua sự thất bại thê thảm đó, tôi có dịp chẳng những tự tìm hiểu những vấn đề cơ bản, mà còn học cách đặt vấn đề, lượng giá khoa học của thông tin, và nhất là phát hiện vấn đề.

    Môn thể thao trí tuệ tuyệt vời

    Tác giả tại một hội thảo khoa học quốc tế.

    Cũng chính qua thất bại đó mà tôi ý thức được sự khác biệt về cách dạy học ở Việt Nam và Úc. Trong khi ở Việt Nam, chúng ta quen với cách học “thầy giảng trò chép” bấy lâu nay, thì ở ngoài người ta đã bỏ cách dạy đó và tạo điều kiện cho sinh viên tự học, tự tìm tòi để nâng cao kiến thức và kỹ năng. Tôi có thể ví cách học ngoài này là người thầy cho sinh viên cái “cần câu” hay phương tiện để sử dụng trong tương lai, và phương tiện đó chính là tư duy độc lập và chủ động. Một khi sinh viên đã có phương tiện và tự tạo ra hay thu thập được dữ liệu / kỹ năng mới, họ sẽ tự tin hơn và hứng thú hơn với thành tựu của chính mình. Nếu họ chỉ sử dụng dữ liệu của người khác một cách thụ động thì đó không phải là cái gì đáng tự hào và sinh viên sẽ trở nên thiếu tự tin. Phải gần một năm trong môi trường giáo dục ở Úc, tôi mới làm quen với cách học chủ động.

    Phần lớn sinh viên Việt Nam (hay Á châu nói chung) có xu hướng học theo công thức, nhưng còn rất kém trong sáng tạo. Thật vậy, kinh nghiệm của tôi trong vai trò người dạy cho thấy sinh viên Việt Nam nói chung giỏi giải những bài toán khó, nhưng khi hỏi họ ứng dụng trong thực tế thì họ gần như… bí. Khi học trong khuôn khổ, sinh viên Việt Nam rất khá; nhưng khi được cho “học tự do” như thiết kế thí nghiệm, phát kiến ý tưởng khoa học, thì sinh viên Việt Nam kém hẳn sinh viên địa phương. Do đó, trong những năm đầu, sinh viên Việt Nam khá hơn sinh viên Úc, nhưng khi học lên càng cao thì sinh viên Việt Nam càng kém.

    Sinh viên Á châu và Việt Nam cũng kém tinh thần làm việc trong đội (team work). Một anh bạn tôi là giáo sư hoá học của đại học New South Wales nhận xét rằng khi làm việc trong nhóm, sinh viên phương Tây thường năng động, phát kiến tốt, tìm cách giải quyết vấn đề, chủ động đóng vai trò lãnh đạo; còn sinh viên Á châu nói chung và Việt Nam nói riêng chỉ giỏi làm những nhiệm vụ được giao phó! Anh bạn tôi kể rằng có lần anh đưa một sinh viên Úc năm cuối chương trình kỹ sư làm một đề án chuyên môn, sau khi nghe qua mục đích đề án chừng nửa giờ, cô ta đi tìm tài liệu, chủ động liên lạc với các tổ chức về môi sinh, với những chuyên gia khắp thế giới, thậm chí liên lạc cả Liên Hiệp Quốc mà không cần ai chỉ bảo. Về mặt kỹ thuật cô ta cũng tự học lấy những kỹ thuật tính toán mới mẻ bằng máy tính chưa hề được dạy. Sáu tháng sau, cô ta làm xong một công trình có giá trị, được đăng trong một tạp chí quốc tế, và có ít nhiều tiếng vang trong ngành. Sự tháo vát như vậy không phải là không có ở sinh viên Việt Nam, nhưng rất hiếm.

    Tinh thần chủ động và tự học đóng vai trò rất quan trọng trong học tiến sĩ. Nghiên cứu sinh khi tốt nghiệp tiến sĩ phải chứng tỏ mình có những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành, phải có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, có kỹ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình. Nhưng một trong những tiêu chuẩn của tiến sĩ là nghiên cứu sinh phải chứng tỏ mình độc lập sau khi tốt nghiệp. Nhưng kỹ năng này phần lớn là do nghiên cứu sinh tự học, chứ rất ít khi nào thầy cô “cầm tay chỉ việc”. Thật vậy, học tiến sĩ thường phải làm việc với một hay hai thầy / cô hướng dẫn. Có ba “loại” thầy hướng dẫn chính: nhà khoa học, doanh nhân, và nhà độc tài. Người thầy trong vai trò nhà khoa học là đồng nghiệp của nghiên cứu sinh, cho định hướng nghiên cứu, nhiệt tình nâng đỡ và chia sẻ kiến thức với nghiên cứu sinh để cả hai thầy trò có thể thành công trong trường khoa học. Người thầy kiểu doanh nhân là người rất bận, ít có thì giờ để thường xuyên gặp nghiên cứu sinh, nhưng lúc nào cũng đòi hỏi phải có “sản phẩm” (tức bài báo khoa học), mà không mấy quan tâm đến chuyện nghiên cứu sinh phải xoay xở ra sao. Người thầy kiểu nhà độc tài là người rất khó tính, xem nghiên cứu như là “nô lệ” phục vụ cho sự nghiệp của họ, lúc nào cũng đòi hỏi nghiên cứu sinh phải báo cáo từng chi tiết một, và lúc nào cũng đòi hỏi phải có sản phẩm theo đúng định kì. (Cố nhiên, còn có một loại “thầy” thứ tư là loại… vô trách nhiệm, nhận nghiên cứu sinh mà không có định hướng cũng chẳng giúp gì cho nghiên cứu sinh, nhưng đây không thể xem là thầy nên không được tính ở đây). Dù học tiến sĩ dưới bất cứ loại thầy nào thì nghiên cứu sinh phải có tư duy độc lập, có tinh thần tự học và chủ động.

    Tự học hay autodidacticism không dễ. Nó đòi hỏi người học phải tập trung, và học từ cơ bản chứ không phải học từ ngọn. Chẳng hạn như mỗi ngày tôi học một từ tiếng Anh, tôi phải học từ đó đến từ đâu, có nghĩa gì, và những cách sử dụng từ đó. Tự học không có nghĩa là học trong cô đơn, mà có giao tiếp với bạn bè để cùng học hỏi. Tự học không có nghĩa là chỉ đọc sách, đọc báo, mà phải làm theo sách, thực hành từ bài báo cho đến khi hiểu. Tự học cũng có nghĩa là học cách phản biện và phát hiện vấn đề. Tuy tự học không dễ, nhưng đó là hình thức thể thao trí tuệ tuyệt vời nhất và có hiệu quả nhất.

    Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí tuệ, trau dồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu ích cho xã hội. Những mục tiêu đó không thể chỉ học trong vòng vài năm, mà phải học suốt đời, chính vì thế mà ở các nước phương Tây người ta có khái niệm lifelong learning – học suốt đời. Học suốt đời là một cách để chúng ta hấp thu tri thức và kỹ năng mới qua học hành và kinh nghiệm không chỉ trong nhà trường mà còn ngoài xã hội nói chung. Nhìn như thế để thấy rằng tư duy tự học và chủ động học tập đóng vai trò quan trọng số một trong cuộc sống.

    Nguyễn Văn Tuấn

    Người trẻ thảo luận chuyện tự học

    Bên cạnh diễn đàn mở ra trên Sài Gòn Tiếp Thị, một diễn đàn trực tuyến của học sinh: http://www.hskl.net cũng mở ra cuộc thảo luận “Tự học dễ hay khó?”. Hiện đã có 80 ý kiến tham gia. Dưới đây là một số ý kiến đại diện:

    – Để có thể tự học được hiệu quả là một nỗ lực cực kỳ lớn. Phải có một tinh thần tự giác rất cao. Tâm lý chung là những cái gì không có tính bắt buộc lắm thì sẽ không có hứng thú, không có độ quyết tâm làm. Phải cố nghĩ cho nó một cái mục đích gì đó để lấy được tâm lý “cái này cần phải làm”. Và đôi khi tự học thì cũng không biết là cần phải làm gì, bởi vì… nhiều cái để làm lắm! (rockbaby)

    – Tự học là tốt, nhưng đôi khi, tự học mà không biết rõ hướng đi, cái gì cần học thì dẫn đến là học quá nhiều cái ko cần thiết, mà cái cần học thì lại ko học, nên trung quy là phải kết hợp cả hai, cả thầy và trò … (Trang Anh)

    – Vừa dễ vừa khó. Nếu tự học được thì mình vừa là giáo viên cho chính mình luôn. Bí quyết để tự học được chính là tự giác và sáng tạo (sáng tạo trong cách học, trong giờ giấc học ) vì tớ thấy nhiều người tự học điên đảo, chẳng chú ý đến nghỉ ngơi, điều đó ko tốt đâu. Mục tiêu của tự học là học thật, học để lấy kiến thức, chứ nếu học để lấy điểm số cao thì có lẽ nê học vẹt, đỡ tốn thời gian và công sức như tự học (Trang)

    – Mình thì thik tự học hơn. Lúc nào có hứng thú thì học, ko thì nghỉ, khá thoải mái. Chắc cũng 1 phần do môi trường tác động, thầy cô chỉ dạy y hệt sách mà lại ko bắt lên lớp. Mỗi lần lên trường đi đi về về mất thêm thời gian, mà bạn bè gặp nhau lại ngồi chém. Tự học thì có vài điểm mấu chốt thế này: xác định mục tiêu học tập,thường là gạch đầu dòng những phần chính phải học, lên lịch trước,hôm nay học phần này,mai học phần kia…., đọc hết sách mà thầy cô dùng để giảng dạy, ìm tài liệu tham khảo xung quanh vấn đề quan tâm (xucxich8x)

    – Em tự học từ bé nên đối với em việc này thật đơn giản. Chính vì thế, em cảm thấy thật lạ đối với 1 số bạn k thể tự học được. Như ở lớp học thêm, có 1 số bạn mà lúc đầu, em có cảm tưởng đó là những người rất chăm học. Cứ thấy bài “hơi” khó là đi hỏi thầy cô bạn bè xung quanh. Nhưng tiếp xúc lâu, em lại cảm thấy họ là những người dường như học chỉ như đối phó. Bài tưởng chừng đơn giản nhất, cũng đem đi hỏi, 1 dạng bài mà cứ hỏi đi hỏi lại… thật là hài hước… Em k biết đó là do họ lười suy nghĩ hay luôn đem theo cái suy nghĩ ” Không biết phải hỏi” suốt đời được chứ. Đứng trước mỗi câu hỏi của họ, em không biết phải làm thế nào, chẳng lẽ trả lời cho họ mãi đc sao hay từ chối thẳng thừng với họ “Tự đi mà làm” . Không biết đối với họ, “Tự học” khó vậy sao (voi con)

    T.L

    http://www.sgtt.com.vn/Khoa-giao/145375/Trai-nghiem-tu-hoc-cua-toi.html

  8. […] (levanut.wordpress.com, tienphong.vn) Related Posts :GS Nguyễn Văn Tuấn: Trải nghiệm tự học của tôiLTS. Tác giả bài viết tham gia diễn đàn kỳ này quê ở Bình Định, sang Úc từ năm 1982. Để mưu sinh, ông đi làm phụ bếp ban ngày, đêm đi học thêm. Từ một chân phụ bếp rồi phụ tá trong bệnh viện, ông …Lạm phát sinh viên khá, giỏiNhiều trường ĐH, CĐ công bố tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi, xuất sắc trên 90%, thậm chí có trường lên đến 98,6%. Nhiều người đặt câu hỏi liệu tỉ lệ “gần tuyệt đối” ấy có phản ánh đúng t …GS Trương Tửu, tự học đã trở thành một GS nổi tiếng Chân dung nhà giáo tiêu biểu: Giáo sư Trương Tửu, bằng con đường tự học đã trở thành một Giáo sư đại học nổi tiếng …Thầy giáo Việt Nam được Microsoft vinh danh Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Vũ – Trưởng khoa tiếng Anh – Trường Đại học Sư phạm TPHCM vừa được Microsoft vinh danh là một trong 50 giáo viên xuất sắc nhất thế giới trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ th …Nỗi niềm một giảng viên nhân ngày Nhà giáo Việt Nam"Ước gì đừng có ngày 20/11", Thạc sĩ giáo dục Phạm Phúc Thịnh, Giảng viên Khoa Toán ứng dụng tin học trường Đại học kinh tế kỹ thuật Bình Dương mở đầu lá thư gửi VnExpress.net, tâm sự nhà giáo đan …By Blogsdna […]


RSS Feed for this entry

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: